Đề xuất điều chỉnh thuế suất MFN đối với nhiều mặt hàng

07:32 | 02/10/2022

(HQ Online) - Bộ Tài chính đã hoàn thiện dự thảo Nghị định về Biểu thuế XK, biểu thuế NK ưu đãi (MFN); Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế NK ngoài hạn ngạch thuế quan và đang gửi xin ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp trước khi trình Thủ tướng xem xét ban hành. Tại dự thảo Nghị định, Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế MFN đối với nhiều mặt hàng nhằm hỗ trợ cho sản xuất và tiêu dùng.

Xin ý kiến thẩm định dự thảo Nghị định Biểu thuế XNK ưu đãi và Danh mục hàng hóa
Đề xuất giảm thuế suất thuế nhập khẩu MFN với xăng và ethanol
Đề xuất điều chỉnh thuế suất MFN đối với nhiều mặt hàng
Bể chứa xăng dầu NK của Công ty cổ phần Tập đoàn Thiên Minh Đức. Ảnh: H.Nụ

Chế phẩm xăng sẽ có mức thuế MFN 10%

Thời gian gần đây, Bộ Tài chính nhận được kiến nghị của một số cơ quan đề nghị giảm mức thuế suất thuế NK ưu đãi đối với mặt hàng xăng để đa dạng hóa nguồn cung trong bối cảnh thị trường xăng dầu thế giới có nhiều biến động.

Để góp phần ổn định giá xăng dầu, kiềm chế lạm phát, góp phần hỗ trợ phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh, ngày 8/8/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định 51/2022/NĐ-CP sửa đổi mức thuế suất thuế NK ưu đãi đối với mặt hàng xăng thuộc nhóm 27.10 tại Biểu thuế NK ưu đãi theo Danh mục mặt hàng chịu thuế theo trình tự thủ tục rút gọn. Theo đó, mặt hàng xăng động cơ không pha chì HS 2710.12.2x từ 20% xuống 10% để kịp thời phát huy hiệu quả trên thực tế.

Theo Bộ Tài chính, trong quá trình điều hành sẽ tiếp tục linh hoạt, chủ động cơ cấu lại các nguồn thu, đồng thời triển khai nhiều biện pháp nhằm tăng thu về cho ngân sách, tránh ảnh hưởng tới nguồn thu khi một số khoản thu thuế giảm.

Tuy nhiên, ngoài mặt hàng xăng động cơ không pha chì, nhóm 27.10 còn có các chế phẩm thay thế cho xăng, là sản phẩm chế biến từ dầu mỏ nhưng có chỉ số octan khác xăng động cơ và được sử dụng như nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hoặc các ngành công nghiệp như pha sơn hay pha xăng có mã HS 2710.12.31, 2710.12.39, 2710.12.40, 2710.12.50, 2710.12.60, 2710.12.70, 2710.12.80, 2710.12.91, 2710.12.92, 2710.12.99 đang có mức thuế suất thuế NK MFN là 20%. Thuế suất FTA của các mặt hàng này theo các Hiệp định FTA (ATIGA, VKFTA…) hiện nay cũng cơ bản từ 10% trở xuống (5%, 8%, 10%).

Do đó, để đảm bảo thống nhất với thuế suất MFN đối với mặt hàng xăng động cơ không pha chì hiện đã được điều chỉnh giảm từ 20% xuống 10%, hỗ trợ giảm giá nguyên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất và đảm bảo phù hợp với nguyên tắc ban hành biểu thuế là thuế suất nguyên liệu thấp hơn thành phẩm quy định tại Luật Thuế XK, thuế NK, tránh vướng mắc trong việc phân loại của cơ quan Hải quan, Bộ Tài chính đề xuất điều chỉnh giảm thuế suất đối với các mặt hàng chế phẩm xăng này bằng với mức thuế suất thuế NK MFN mặt hàng xăng không pha chì là 10%.

Đối với mặt hàng Ethanol, mã HS 2207.20.11, 2207.20.19 có mức thuế suất MFN là 15%. Thuế suất ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định ATIGA, VKFTA đối với nhóm 22.07 là 0%. Đây là loại cồn (Ethanol) sử dụng trong công nghiệp. Kim ngạch NK năm 2021 là 48,7 triệu USD, trong đó NK từ Mỹ chiếm khoảng 62%. Tại Nghị định 57/2020/NĐ-CP, Chính phủ cũng đã điều chỉnh mã HS 2207.20.11 từ 17% xuống 15% và 2207.20.19 từ 20% xuống 15%.

Trong bối cảnh giá xăng thế giới và trong nước tăng cao kèm theo sự thiếu hụt về cung ứng xăng dầu thì việc NK Ethanol sẽ bù đắp phần thiếu hụt của xăng khoáng. Các sắc thuế bảo vệ môi trường và thuế tiêu thụ đặc biệt cũng đều quy định ưu đãi đối với mặt hàng Ethanol. Theo nguyên tắc thuế suất thấp hơn thuế suất thuế NK xăng khoáng nhưng vẫn đảm bảo dư địa để đàm phán cho các biểu thuế theo các FTA tới đây. Bộ Tài chính đề xuất điều chỉnh thuế suất mặt hàng Ethanol từ 15% xuống 10%.

Điều chỉnh mức thuế NK về 0%

Một số mặt hàng cũng được đề xuất giảm thuế NK về 0%, như mặt hàng VGO (là nguyên liệu, sản phẩm trung gian cho các nhà máy lọc dầu) và được sử dụng để tăng sản lượng các sản phẩm có giá trị tại nhà máy. Mặt hàng residue thuộc mã HS 2713.90.00, cũng được Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế NK thông thường từ 5% xuống 0%. Đây là phân đoạn cặn của công đoạn chưng cất khí quyển hoặc chưng cất chân không dầu thô. Đối với Nhà máy lọc dầu Dung Quất, mặt hàng residue là nguyên liệu đầu vào dùng phối trộn một phần với dầu thô làm nguyên liệu chưng cất dầu thô.

Ngoài 2 mặt hàng nêu trên, mặt hàng condensate - nguyên liệu khai thác từ thiên nhiên có tính chất tương tự dầu thô nhưng thành phần nhẹ. Theo nguyên tắc ban hành biểu thuế, thuế suất, các mặt hàng là tài nguyên, khoáng sản thô chưa qua chế biến được quy định mức thuế XK cao để hạn chế XK và quy định mức thuế NK MFN thấp để khuyến khích NK, bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa qua chế biến trong nước.

Theo đó, Bộ Tài chính đề xuất điều chỉnh giảm thuế NK thông thường của mã HS 2709.00.20 từ 3% xuống 0% và điều chỉnh tương ứng thuế NK thông thường của mã HS 2709.00.20 là 0% để đảm bảo nguồn nguyên liệu sản xuất xăng dầu.

Điều hành để tránh tác động đến thu ngân sách

Việc Chính phủ quyết định giảm 10% thuế NK ưu đãi đối với xăng động cơ không pha chì theo Nghị định 57/202/NĐ-CP, qua đánh giá của Bộ Tài chính không tác động nhiều đến nguồn thu ngân sách. Theo Bộ Tài chính, hiện nay, mặt hàng xăng được NK chủ yếu từ các quốc gia có ký kết các FTA với Việt Nam nên thuộc diện được áp dụng mức thuế suất thuế NK FTA thấp hơn so với mức thuế suất thuế NK MFN.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, năm 2021, tổng kim ngạch NK có thuế mặt hàng xăng dầu của nước ta là 475,26 triệu USD, trong đó NK từ các nước có ký kết FTA với nước ta là 474,1 triệu USD (chiếm 99,7%). Chỉ tính riêng trong 5 tháng đầu năm 2022, tổng kim ngạch NK có thuế mặt hàng xăng là 826,53 triệu USD, cơ bản cũng được NK từ các nước có ký kết các FTA với Việt Nam. Như vậy, với tỷ trọng xăng NK theo thuế suất thuế MFN thấp, việc điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế NK MFN đối với mặt hàng xăng cơ bản sẽ không có nhiều tác động đến thu NSNN.

Bộ Tài chính lý giải, cụ thể đối với mặt hàng xăng đông cơ không pha chì nếu điều chỉnh giảm thuế suất thuế NK 10% có thể làm giảm số thu NSNN, nhưng mức giảm cũng thấp (khoảng 4,6 tỷ đồng) do hiện nay, các mặt hàng trên chủ yếu NK từ các nước ASEAN, Hàn Quốc (thực hiện theo thuế suất thuế NK ưu đãi đặc biệt tại các FTA vứi Hàn Quốc và Hiệp định ATIGA). Đồng thời, tác động tích cực từ việc điều chỉnh giảm cũng đảm bảo phù hợp với nguyên tắc ban hành Biểu thuế, thuế suất quy định tại Luật Thuế XK, thuế NK; tạo điều kiện cho các DN giảm giá đầu vào trong bối cảnh giá cả của các mặt hàng này thời gian qua liên tục tăng và đang ở mức cao.

Hay như mặt hàng VGO, theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2021 kim ngạch NK của mặt hàng thuộc mã HS 2710.19.90 khoảng 84,3 triệu USD (NK nhiều nhất từ các thị trường Hàn Quốc, ASEAN, Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc). Bộ Tài chính đề xuất điều chỉnh giảm thuế MFN của mã HS 2710.19.90 từ 5% xuống 0% (bằng mức thuế NK từ ASEAN và Hàn Quốc) để giảm chi phí đầu vào cho sản xuất xăng dầu trong nước và điều chỉnh tương ứng thuế NK thông thường là 0% để đa dạng hóa thị trường NK. Việc điều chỉnh giảm thuế MFN và thuế NK thông thường của mặt hàng này xuống 0% sẽ tác động giảm thu ngân sách khoảng 39 tỷ đồng/năm.

Còn đối với mặt hàng VGO thuộc mã HS 2710.20.00 thì thuế NK MFN đã là 0% nhưng thuế NK thông thường đang là 5%. Theo số liệu kim ngạch NK của Tổng cục Hải quan năm 2021, kim ngạch NK mặt hàng thuộc mã HS 2710.20.00 khoảng 99.000 USD, trong đó NK theo thuế nhập khẩu MFN là 32.000 USD, không có kim ngạch NK theo thuế suất thông thường. Tuy nhiên, để đa dạng hóa nguồn NK trước áp lực từ giá xăng dầu, Bộ Tài chính đề xuất điều chỉnh giảm thuế NK thông thường của mã HS 2710.20.00 từ 5% xuống 0%. Việc điều chỉnh này dự kiến không làm giảm thu ngân sách so với hiện hành.

Nụ Bùi