Xem xét điều chỉnh cơ chế ưu đãi đối với FDI

09:57 | 14/03/2019

(HQ Online) - Hiện nay, chính sách ưu đãi tài chính nói chung, chính sách thuế nói riêng không có sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, không thể phủ nhận các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang hưởng lợi nhiều hơn. Chính phủ, trực tiếp là Bộ Tài chính, đang đánh giá lại vấn đề này để đưa ra những giải pháp thiết thực.

xem xet dieu chinh co che uu dai doi voi fdi Giải mã dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy mạnh vào TP.HCM
xem xet dieu chinh co che uu dai doi voi fdi Đồng Nai: Thu hồi 499 dự án doanh nghiệp FDI
xem xet dieu chinh co che uu dai doi voi fdi TPHCM: Thu hút vốn FDI giảm
xem xet dieu chinh co che uu dai doi voi fdi Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ: Cần cơ chế ưu đãi linh hoạt hơn để thu hút các dự án FDI lớn
xem xet dieu chinh co che uu dai doi voi fdi
Tỷ trọng về số thuế TNDN được ưu đãi miễn, giảm của DN FDI chiếm 76% cả nước. Ảnh: ST.​​

Ưu đãi không dành riêng ai

Các ưu đãi về tài chính tập trung vào 3 lĩnh vực là ưu đãi về thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), ưu đãi về thuế Xuất khẩu, nhập khẩu (XNK) và ưu đãi về tài chính đất đai.

Hiện nay, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 thì mức thuế suất phổ thông từ 25% giảm còn 22% và xuống mức 20% áp dụng từ ngày 1/1/2016. Luật số 32 đã kế thừa các quy định ưu đãi của Luật số 14/2008/QH12, đồng thời bổ sung ưu đãi đối với đầu tư trong khu công nghiệp (trừ khu công nghiệp thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi) và dự án đầu tư mở rộng. Đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật thuế số 71/2014/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015, đã bổ sung thêm một số lĩnh vực, ngành nghề thuộc diện ưu đãi thuế như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông, lâm, thủy sản (không áp dụng ưu đãi đối với lĩnh vực chế biến lâm sản); sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ; các dự án sản xuất có quy mô vốn lớn và công nghệ cao. Bên cạnh thuế suất, việc ưu đãi cũng phân chia theo địa bàn với các đối tượng ưu tiên thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu công nghệ cao, khu kinh tế, khu công nghiệp.

Về thuế XNK, nhằm đáp ứng các yêu cầu cam kết hội nhập, đồng thời tiếp tục hoàn thiện các chính sách ưu đãi xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài, Luật thuế XNK tiếp tục được cập nhật, sửa đổi trong các năm 2001, 2005 và 2016 như: Bổ sung thêm DN công nghệ cao, DN khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được trong thời hạn 5 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất, bổ sung quy định miễn thuế đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu trong nước chưa sản xuất được để sản xuất, lắp ráp trang thiết bị y tế cần được ưu tiên nghiên cứu, chế tạo.

Song song với thuế, công cụ tài chính đất đai cũng là một hình thức ưu đãi phổ biến. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay, để hỗ trợ DN, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ cụ thể như giảm 50% tiền thuê đất trong giai đoạn từ năm 2011-2014; điều chỉnh giảm mức tỷ lệ tính đơn giá thuê đất chung từ 1,5% xuống còn 1% và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể mức tỷ lệ trong khung từ 0,5% đến 3% theo từng khu vực, tuyến đường tương ứng với từng mục đích sử dụng đất để áp dụng thu tiền thuê đất tại địa phương...

Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, sau đó là Luật Đất đai năm 2013, Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước và ban hành theo thẩm quyền các Thông tư hướng dẫn với những quy định nhằm hỗ trợ DN, cải thiện môi trường kinh doanh. Trong đó, nổi bật là việc miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư; ưu đãi trong lĩnh vực xã hội hóa; ưu đãi khi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; mở rộng phạm vi áp dụng phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất và đối tượng áp dụng để xác định nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất cho DN đã cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xác định, thông báo nộp tiền thuê đất vào ngân sách nhà nước và hỗ trợ một phần cho DN...

Đồng thời, để thu hút đầu tư, tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính đất đai tại các khu kinh tế, khu công nghệ cao, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2017/NĐ-CP ngày 3/4/2017 quy định thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước trong khu kinh tế, khu công nghệ cao với những ưu đãi cao hơn mức ưu đãi của các dự án đầu tư thường.

Để không chỉ FDI hưởng “lợi” nhiều

Đánh giá về những tác động của chính sách ưu đãi tài chính nói trên, Bộ Tài chính cho rằng: Chính sách ưu đãi về tài chính đã góp phần nhất định vào việc động viên, thu hút các nguồn lực, đặc biệt là từ khối đầu tư nước ngoài vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy xuất khẩu và bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng mà không tạo ra sự bất bình đẳng giữa khối DN FDI với DN trong nước, thậm chí khuyến khích các DN mới được thành lập hoặc đầu tư thêm vốn, mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất.

Tuy nhiên, bên cạnh tích cực thì hạn chế cũng nảy sinh. Thứ trưởng Bộ Tài chính Huỳnh Quang Hải chỉ ra một số điểm nổi bật. Đó là mức ưu đãi cao, diện ưu đãi còn rộng và dàn trải làm suy giảm nguồn thu NSNN trong khi NSNN đang rất thiếu để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển KT-XH. Ví dụ như ưu đãi về thuế TNDN: DN được hưởng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Ngoài ra, một số trường hợp còn được áp dụng mức thuế suất 10% áp dụng trong suốt thời gian thực hiện dự án.

Đặc biệt, phải thừa nhận rằng, mặc dù chính sách ưu đãi thuế áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế, tuy nhiên khu vực FDI đang được hưởng nhiều hơn từ chính sách ưu đãi. Điều này được Thứ trưởng Huỳnh Quang Hải minh chứng bằng con số tỷ trọng về số thuế TNDN được ưu đãi miễn, giảm của DN FDI chiếm 76% cả nước, hay tỷ lệ về số thuế TNDN được ưu đãi miễn, giảm của DN FDI trên tổng số thuế TNDN phải nộp tính theo thuế suất phổ thông là 48%, trong khi tỷ lệ này của DNNN là 4,6%, DN ngoài quốc doanh là 14%,...

Để nhanh chóng giải quyết những tồn tại, Bộ Tài chính đang trình Chính phủ một số giải pháp trong đó nhấn mạnh việc cải cách ưu đãi thuế nhằm tạo sự chuyển biến trong phân bổ nguồn lực, khuyến khích và thu hút đầu tư có chọn lọc để phát triển hợp lý theo vùng, ưu tiên các lĩnh vực quan trọng theo chính sách phát triển của Nhà nước. Cùng với đó là hoàn thiện chính sách ưu đãi về đất đai theo hướng rà soát lại các ưu đãi về đất đai để đảm bảo tính đồng bộ giữa pháp luật đất đai, pháp luật về đầu tư và các chính sách khác của Nhà nước.

Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ:

Chính sách ưu đãi thuế, ưu đãi về đất đai cần được xác định lại qua các thời kỳ khác nhau, không thể áp ụng như cũ. Việt Nam cần có cơ chế ưu đãi linh hoạt hơn, kể cả biện pháp phi tài chính để thu hút các dự án lớn, quan trọng từ các tập đoàn đa quốc gia, nhất là các tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở chính tại Việt Nam. Đồng thời, chú trọng hoàn thiện chính sách về sử dụng đất trong và ngoài khu công nghiệp, nâng cao hiệu suất đầu tư trên 1ha đất sử dụng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng đầu tư và bảo đảm nhu cầu phát triển đô thị, xã hội.

(Phát biểu tại cuộc làm việc mới đây về chính sách thu hút FDI)

Ông Đinh Trọng Thắng -Trưởng Ban Chính sách Đầu tư, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:

Cần chuyển từ thu hút đầu tư dựa trên lợi thế sẵn có sang thu hút đầu tư theo mong muốn bằng cách tạo ra những lợi thế về lao động, hạ tầng, môi trường kinh doanh tương ứng và phù hợp; ưu đãi cho các DN theo hiệu quả kinh doanh…. “Cải thiện môi trường đầu tư mới là điểm cốt lõi trong chính sách thu hút đầu tư hiện nay chứ không phải các cơ chế ưu đãi”.

Hồng Vân