Lao động bỏ hợp đồng khiến doanh nghiệp mất thị trường

09:50 | 16/11/2019

(HQ Online) - Theo ước tính của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, hiện Việt Nam có khoảng 500.000 lao động đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Và hiện họ phải đối mặt với không ít rủi ro trên hành trình mưu sinh.

lao dong bo hop dong khien doanh nghiep mat thi truong Có nhiều cách đi xuất khẩu lao động mà không cần "trốn"
lao dong bo hop dong khien doanh nghiep mat thi truong Đã có 35 gia đình trình báo người thân có thể là nạn nhân tử vong ở Anh
lao dong bo hop dong khien doanh nghiep mat thi truong Anh không cấp giấy phép cho lao động phổ thông Việt Nam
lao dong bo hop dong khien doanh nghiep mat thi truong Người huyện nghèo đi xuất khẩu lao động được vay 100% vốn ưu đãi
lao dong bo hop dong khien doanh nghiep mat thi truong Thêm một doanh nghiệp xuất khẩu lao động bị xử phạt

Tỷ lệ lao động bỏ hợp đồng vẫn ở mức cao

Bà Trần Thị Vân Hà, Trưởng phòng Thông tin truyền thông (Cục Quản lý lao động ngoài nước) cho biết, theo ước tính của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, hiện Việt Nam có khoảng 500.000 lao động đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mỗi năm, họ gửi về nước khoảng 2 – 2,5 tỷ USD.

Theo luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, có 4 hình thức người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài gồm: Làm việc ở nước ngoài thông qua hợp đồng các công ty dịch vụ; hợp đồng cá nhân; các doanh nghiệp trúng thầu dự án ở nước ngoài và doanh nghiệp đưa lao động đi; đi lao động ở nước ngoài theo diện đào tạo nghề.

Hàng năm, có hơn 100.000 người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo 4 hình thức này. Tính riêng năm 2018 có hơn 146.000 người. Hiện Đài Loan (Trung Quốc) vẫn được đánh giá là một trong những thị trường có người lao động Việt Nam cao nhất. Tuy nhiên, những năm gần đây số lao động ở Nhật Bản tăng lên rõ rệt, vượt qua lao động sang Đài Loan (Trung Quốc) là 65.000 người.

Một số thị trường có điểm sáng trong thời gian gần đây là châu Âu: Rumani, Ba Lan… người lao động ở tầm trung bình có thể tham gia. Mặc dù, số lượng lao động chỉ vài nghìn nhưng lại đang lựa chọn thí điểm với các thị trường này. Đặc biệt, chúng tôi rất thận trọng, để phòng tránh tình trạng bỏ hợp đồng ra ngoài làm ảnh hưởng tới thị trường lao động đầy tiềm năng này.

Mặc dù số lượng lao động ở nước ngoài tăng nhanh nhưng tỷ lệ lao động bỏ hợp đồng của Việt Nam vẫn ở mức cao. Chẳng hạn, thị trường Ðài Loan (Trung Quốc) hiện có trên 22 nghìn lao động bất hợp pháp, còn ở Hàn Quốc là khoảng 15 nghìn người.

“Một phần nguyên nhân liên quan tới việc thu phí cao; điều kiện làm việc, nhiều trung tâm tuyển người làm việc thông qua trung gian nên không cụ thể, chi tiết về môi trường, điều kiện làm việc. Chính vì vậy, gây ra tình trạng thất vọng khi người lao động tới làm việc và tìm cách trốn ra ngoài. Bên cạnh đó, người lao động có cơ hội để kiếm việc làm khác với thu nhập tốt hơn nên đã bỏ trốn ra ngoài. Rất nhiều trường hợp bị bắt và bị trục xuất”, bà Hà cho biết thêm.

Còn tại thị trường Nhật Bản, theo bà Trần Thị Vân Hà, lao động cũng bỏ trốn tăng về số lượng. Năm 2016, hơn 2.000 lao động bỏ trốn, năm 2018 lên gần 5.500 lao động bỏ ra ngoài và vi phạm pháp luật.

Nguyên nhân người lao động bỏ trốn ra ngoài vì ở Nhật Bản có nhiều quy định khắt khe. Bên cạnh đó, du học sinh của chúng ta đi học nhưng trá hình, thực chất là đi làm qua nhiều hình thức khác.

lao dong bo hop dong khien doanh nghiep mat thi truong
Hiện Việt Nam có khoảng 500.000 lao động đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Ảnh: Internet.

Triển khai nhiều biện pháp giảm chi phí

Đứng ở góc độ là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, ông Lê Nhật Tân, Phó Tổng giám đốc Công ty LOD nhấn mạnh, nhiều người cho rằng lao động Việt Nam bỏ hợp đồng ra ngoài làm việc là vì chi phí cao, nhưng xét về góc độ của doanh nghiệp, tôi cho rằng có những chương trình không thu phí cao, như chương trình của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội triển khai. Bên cạnh đó, lao động bỏ trốn có tỷ lệ cao là vì người lao động cho rằng họ đang quen với môi trường lao động ở quốc gia đó, quen với văn hóa, phong tục, khí hậu và thu nhập cao thì tại sao phải về. Chưa kể về thì biết làm gì để có thu nhập cao như vậy. Dù vẫn có một phần tỉ lệ nào đó bỏ hợp đồng lao động vì chi phí dịch vụ cao nhưng với LOD thì không phải như vậy.

Chia sẻ về những hậu quả doanh nghiệp phải gánh chịu do tình trạng người lao động bỏ trốn, ông Lê Nhật Tân cho biết, việc lao động bỏ trốn gây mất uy tín của doanh nghiệp và doanh nghiệp bị vi phạm hợp đồng với đối tác. Trong khi, việc ngăn chặn lao động bỏ trốn là điều khoản cao nhất mà doanh nghiệp phải đảm bảo với đối tác. Đây cũng là điều làm doanh nghiệp đau đầu nhất, vì vừa ảnh hưởng uy tín vừa ảnh hưởng tới tài chính.

“Vì tình trạng bỏ trốn, thị trường của chúng ta sẽ không bền vững nữa. Bởi rất khó khăn để doanh nghiệp kí hợp đồng đưa lao động ra nước ngoài làm việc, nhưng khi để xảy ra tình trạng bỏ trốn hợp đồng sẽ rất khó cho những người đi sau, thậm chí mất toàn bộ hợp đồng, đóng cửa thị trường như từng xảy ra với thị trường Đài Loan, Hàn Quốc”, ông Lê Nhật Tân chia sẻ.

Ðể giảm thiểu tình trạng lao động bỏ trốn, Cục Quản lý lao động ngoài nước đã yêu cầu các doanh nghiệp thắt chặt khâu đào tạo, tuyển chọn. Sắp tới, trong Luật đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (sửa đổi), Cục cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu lao động liên kết với trường nghề để tuyển chọn những lao động có ý thức, tay nghề. Ngoài ra, sẽ thông báo cụ thể tới từng doanh nghiệp, đơn vị nào có tỷ lệ lao động bất hợp pháp cao sẽ chịu biện pháp xử lý mạnh hơn.

Đồng thời, sẽ thắt chặt nhiệm vụ, quy trình tuyển chọn, công tác đào tạo của doanh nghiệp phái cử, giảm thiểu các thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp phù hợp với luật pháp Việt Nam, luật pháp nước sở tại và Công ước quốc tế. Qua đó, sẽ nỗ lực giảm chi phí dịch vụ, bằng việc tăng cường hành lang pháp lý để đảm bảo lợi ích cho người lao động và doanh nghiệp phái cử. Luật này dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua vào năm 2020.

Xuân Thảo