Bí quyết giúp doanh nghiệp đứng vững tại các thị trường FTA

11:21 | 04/12/2022

(HQ Online) - Trong khi đa phần doanh nghiệp (DN) vẫn còn khá e ngại, thì một số DN Việt Nam đã nhanh chóng tận dụng được những lợi thế từ các FTA thế hệ mới để có được chỗ đứng vững chắc tại các thị trường lớn này bằng chính thương hiệu riêng của mình.

Tăng tốc xuất khẩu vào các thị trường FTA
Triển vọng tăng trưởng tại các thị trường mới nổi của châu Á
Xuất khẩu sang các thị trường đã có FTA dự báo khả quan
Xuất khẩu cua, ghẹ tăng trưởng ở nhiều thị trường lớn
Chế biến cá tra xuất khẩu. 	Ảnh: TTXVN
Chế biến cá tra xuất khẩu. Ảnh: TTXVN

Câu chuyện của những người mở đường

Hiện vẫn còn nhiều DN e ngại xuất khẩu vào các thị trường FTA thế hệ mới do e ngại rào cản; nhiều DN vẫn chỉ làm gia công với giá trị thấp mà chưa xây dựng được thương hiệu tại các thị trường này…

Chia sẻ tại một sự kiện do Bộ Công Thương tổ chức nhằm đánh giá tình hình tận dụng các FTA được tổ chức cuối tuần qua, ông Phan Minh Thông, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Phúc Sinh đã nêu lên một loạt lợi ích mà công ty có được kể từ khi Việt Nam tham gia ký kết các FTA. Cụ thể, ngoài hoạt động xuất khẩu các nông sản như hạt tiêu, cà phê, Phúc Sinh còn hoạt động thương mại quốc tế. Trong đó, Phúc Sinh có mua hạt tiêu của Indonesia và bán lại cho các khách hàng châu Âu, Mỹ. Tuy nhiên, hoạt động này trước đây chịu sự cạnh tranh rất lớn bởi các DN của Indonesia.

Nhưng từ khi Việt Nam tham gia ký kết FTA với khu vực ASEAN, Phúc Sinh đã có được lợi thế rất lớn từ hoạt động thương mại quốc tế. Bởi tại Indonesia không có nhà máy tiêu tiệt trùng như của Phúc Sinh. Trong khi thị trường châu Âu chỉ nhập khẩu tiêu tiệt trùng. Do đó, Phúc Sinh đã nhập khẩu hạt tiêu của Indonesia về chế biến rồi tái xuất sang châu Âu. “Điều đặc biệt là Hiệp định ASEAN đã đưa thuế suất nhập khẩu hạt tiêu từ Indonesia vào Việt Nam về mức 0%, do đó, Phúc Sinh đã có được lợi thế rất lớn khi cạnh tranh với các nhà thương mại từ Hà Lan, Đức” – ông Phan Minh Thông cho biết.

Tương tự, với EVFTA, các mặt hàng nông sản chế biến xuất khẩu sang EU đều được giảm thuế. Nhờ đó, doanh số xuất khẩu của Phúc Sinh sang thị trường này tăng lên đáng kể. Nếu như năm 2020, Phúc Sinh xuất khẩu sang châu Âu 50 triệu USD thì đến năm 2021 đã tăng lên 63 triệu USD, tương đương mức tăng 26% và dự kiến sẽ tiếp tục tăng khoảng 30% trong năm 2022. Ngoài lợi ích cho xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu cũng được hưởng lợi từ EVFTA. “Điều này giúp các DN tự tin hơn rất nhiều trong việc đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đa dạng hoá mặt hàng để cạnh tranh với nhiều nước trên thế giới” – ông Phan Minh Thông chia sẻ.

Tương tự như câu chuyện của Phúc Sinh, ông Phạm Thái Bình, Tổng giám đốc Công ty CP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An cho biết, trước khi ký kết EVFTA, thuế suất nhập khẩu của gạo Việt Nam vào thị trường châu Âu ở mức rất cao, từ 5-45% tuỳ từng quốc gia. Do đó, dù đã thâm nhập được vào châu Âu nhưng gạo Việt Nam rất khó cạnh tranh với gạo ở những nước như Campuchia, Lào, Myanmar… bởi đây là những nước nghèo nên được Liên minh châu Âu đặc cách miễn thuế. Chính vì vậy, EVFTA mang đến cơ hội cạnh tranh sòng phẳng cho các DN gạo Việt Nam.

Theo ông Bình, thời điểm đó khi xuất khẩu gạo vào châu Âu, có khi nhà nhập khẩu phải đóng thuế tới 100-200 Euro/tấn. Hiện nay, khi không phải đóng thuế nhập khẩu, gạo Việt Nam có được mức giá rất cạnh tranh tại thị trường này. Cùng với đó, việc chất lượng ngày càng được nâng cao đã giúp người châu Âu ngày càng tin dùng gạo Việt Nam. Thậm chí, Trung An đã xuất khẩu thành công gạo mang thương hiệu riêng vào thị trường châu Âu và bán được với mức giá ngang bằng với giá gạo của Thái Lan.

“Bí quyết” thành công

Theo chia sẻ của các DN, bí quyết giúp họ tận dụng lợi thế của các FTA và tạo dựng được chỗ đứng tại các thị trường chính là việc đầu tư cho chất lượng và thương hiệu. Cụ thể, sau nhiều năm xuất khẩu gạo vào châu Âu dưới thương hiệu của DN nước ngoài, năm 2020 Trung An đã có quyết định táo bạo là xây dựng thương hiệu gạo Trung An ở thị trường này. Khi đó, công ty đã cắt toàn bộ khách hàng và ra thông báo với 27 nước thành viên châu Âu rằng: Thương nhân châu Âu muốn mua gạo của Trung An thì phải đóng bao bì của Trung An.

Thời điểm đó, DN này đang có khoảng 6-7 khách hàng ở nhiều quốc gia châu Âu. Khi đưa ra quyết định này, nhiều người đã e ngại rằng công ty sẽ bị mất khách và sản lượng xuất khẩu đi châu Âu sẽ sụt giảm. Nhưng thực tế lại chứng minh điều ngược lại, doanh số bán hàng của Trung An không ngừng tăng lên và hiện gạo sạch của DN này đã đứng đầu tại thị trường Đức. “Vấn đề xây dựng thương hiệu là rất quan trọng và đi kèm đó phải là chất lượng và tính ổn định. Nếu chất lượng lô hàng sau có khác biệt, châu Âu sẽ lập tức trả hàng về” – ông Phạm Thái Bình chia sẻ.

Ông Phan Minh Thông cũng nhấn mạnh rằng để có được thành công tại các thị trường xuất khẩu, DN cần sẵn sàng cải tiến các quy trình để đáp ứng quy định của các thị trường quốc tế và đủ tiêu chuẩn để hưởng lợi từ các FTA. Cụ thể, cần đẩy mạnh hoạt động chế biến sâu vì trong ngành thực phẩm, người châu Âu rất quan trọng vấn đề an toàn thực phẩm, đặc biệt là phát triển bền vững. “Nếu như trước dịch chỉ có khoảng 30% khách hàng của Phúc Sinh đề cập tới vấn đề phát triển bền vững thì hiện nay 100% khách hàng đều quan tâm tới vấn đề này” – ông Phan Minh Thông chia sẻ.

Về chế biến sâu, ông Thông đánh giá đây chính là cứu cách đối với ngành nông nghiệp Việt Nam. Bởi chế biến sâu sẽ giúp đối phó với những đợt sóng biến động giá của thị trường. Việc chế biến sâu cũng giúp DN cạnh tranh tốt hơn và có thể tận dụng FTA để bán hàng.

Ông Thông cho biết, với 6 nhà máy chế biến các mặt hàng hạt tiêu, cà phê, tổng doanh số xuất khẩu năm 2021 của DN này đạt tới 220 triệu USD, trong đó có 60.000 tấn cà phê, 25.000 tấn hạt tiêu cùng nhiều mặt hàng khác như quế, hoa hồi, hạt điều, gạo và các sản phẩm chế biến như K-coffee, K-pepper.

Theo ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên - Bộ Công Thương: dù giá trị xuất khẩu sang các thị trường FTA mới như EU, Anh, Canada, Mexico tăng trưởng tốt, nhưng tỷ trọng của các thị trường này trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chưa tăng, thậm chí một số thị trường còn khá khiêm tốn. Theo thống kê, tỷ lệ tận dụng ưu đãi trong EVFTA là 20%, UKVFTA là hơn 22% và CPTPP mới chỉ là 6%. Tỷ lệ này cần được tăng lên vì mức 20% vẫn còn thấp. Tỷ lệ tận dụng càng nhiều, lợi ích sẽ càng lớn và hy vọng tốc độ tăng trưởng thời gian qua sẽ tiếp tục được duy trì.

Nguyễn Hiền