Quy định điều kiện kiểm tra, giám sát với doanh nghiệp là khu phi thuế quan

11:54 | 03/12/2021

(HQ Online) - Thời gian qua, một số doanh nghiệp, đơn vị hải quan địa phương còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai, thực hiện các quy định tại Nghị định 18/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 134/2016/NĐ-CP. Để các đơn vị, doanh nghiệp hiểu rõ hơn các quy định, Tổng cục Hải quan đã có hướng dẫn liên quan đến quy định điều kiện kiểm tra, giám sát và chính sách thuế với doanh nghiệp là khu phi thuế quan.

IPP Group đầu tư Khu phi thuế quan trị giá gần 7.000 tỷ đồng tại Phú Quốc
Điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan đối với DN chế xuất là khu phi thuế quan
Hàng nhập khẩu sau đó tái xuất vào khu phi thuế quan có được hoàn thuế?
Quy định điều kiện kiểm tra, giám sát với doanh nghiệp là khu phi thuế quan
Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan Bắc Ninh. Ảnh: Q. Hùng

Theo công ty TNHH Công nghiệp Brother, hàng hóa của công ty không thực hiện thủ tục hải quan theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Thông tư 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 39/2018/TT-BTC thì có cần thiết lập hệ thống camera giám sát hay không?

Công ty TNHH Công nghiệp Brother đề nghị cơ quan Hải quan hướng dẫn cụ thể hình ảnh dữ liệu khi kết nối. Bởi hiện nay Tổng cục Hải quan chưa ban hành định dạng thông điệp dữ liệu trao đổi giữa cơ quan hải quan và doanh nghiệp về hệ thống camera giám sát để thực hiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 28a.

Để doanh nghiệp và các đơn vị hiểu rõ hơn về quy định này, theo Tổng cục Hải quan, tại khoản 1 Điều 4 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 thì: “Khu phi thuế quan là khu vực kinh tế nằm trong lãnh thổ Việt Nam, được thành lập theo quy định của pháp luật, có ranh giới địa lý xác định, ngăn cách với khu vực bên ngoài bằng hàng rào cứng, bảo đảm điều kiện cho hoạt động kiểm tra, c tại giám sát, kiểm soát hải quan của cơ quan hải quan và các cơ quan có liên quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và phương tiện, hành khách xuất cảnh, nhập cảnh; quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu”.

Cũng tại điểm c khoản 4 Điều 2 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 quy định hàng hóa xuất khẩu từ khu phi thuế nước ngoài; hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan; hàng hóa chuyển từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác” thuộc đối tượng không chịu thuế.

Khoản 1 Điều 59 Luật Hải quan quy định: “Hàng hóa là nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu phải chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ khi nhập khẩu, trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cho đến khi sản phẩm được xuất khẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng”.

Theo Khoản 1 Điều 28a Nghị định 134/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 10 Điều 1 Nghị định 18/2021NĐ-CP thì “điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan đối với doanh nghiệp chế xuất là khu phi thuế quan phải đáp ứng đủ các điều kiện như hàng rào ngăn cách với khu vực bên ngoài; có cổng/cửa ra, vào đảm bảo việc đưa hàng hóa ra, vào doanh nghiệp chế xuất chỉ qua cổng/cửa; có hệ thống ca mê ra quan sát được các vị trí tại cổng/cửa ra, vào và các vị trí lưu giữ hàng hóa ở tất cả các thời điểm trong ngày (24/24 giờ, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ); dữ liệu hình ảnh ca mê ra được kết nối trực tuyến với cơ quan hải quan quản lý doanh nghiệp và được lưu giữ tại doanh nghiệp chế xuất tối thiểu 12 tháng; có phần mềm quản lý hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế của doanh nghiệp chế xuất để báo cáo quyết toán nhập- xuất- tồn về tình hình sử dụng hàng hóa nhập khẩu theo định pháp luật về hải quan”.

Đối chiếu với các quy định trên, theo Tổng cục Hải quan hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất thuộc đối tượng không chịu thuế, phải chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan.

Tổng cục Hải quan cho rằng, khoản 1 Điều 28a Nghị định 134/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 10 Điều 1 Nghị định 18/2021/NĐ-CP đã quy định rõ hệ thống ca mê ra quan sát các vị trí cổng của ra, vào và các vị trí lưu giữ hàng hóa, không yêu cầu quan sát đến từng mã hàng trên từng kiện hàng, sản phẩm.

Theo đó, để bảo mật thông tin khi thực hiện kết nối dữ liệu hình ảnh camera có nhiều giải pháp kỹ thuật khác nhau. Hiện nay, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể về phương thức, tiêu chuẩn kết nối, bảo mật thông tin trong trao đổi dữ liệu hình ảnh camera. Vì vậy, trong trường hợp này đề nghị doanh nghiệp phối hợp với cơ quan Hải quan để thống nhất phương án triển khai bảo mật. Về lâu dài, Tổng cục Hải quan sẽ xây dựng, ban hành các quy định, hướng dẫn cụ thể giải pháp bảo mật thông tin trong quá trình trao đổi dữ liệu hình ảnh ca mê ra giám sát.

Đối với việc kết nối theo thời gian thực hay ghi lại dữ liệu, Tổng cục Hải quan cho biết, việc kết nối trực tuyến hình ảnh camera phải đảm bảo ghi nhận, cho phép cơ quan Hải quan nắm bắt kịp thời các hoạt động di chuyển của nguyên vật liệu, thành phẩm vào, ra doanh nghiệp chế xuất theo thời gian thực.

Liên quan đến bảo mật đối với hàng mẫu chưa đưa ra thị trường, Tổng cục Hải quan đề nghị doanh nghiệp có biện pháp bảo vệ bí mật phù hợp. Về camera giám sát tại vị trí kho lưu giữ, không yêu cầu quan sát chi tiết đến từng mã hàng như doanh nghiệp nêu.

Cục Hải quan Bắc Ninh cũng nêu thắc mắc, các khu công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, nhà đầu tư khu công nghiệp đã xây sẵn nhà xưởng cho thuê trên một khu đất, nhà xưởng được xây dựng có mặt trước và hai mặt bên cạnh có hàng rào cứng ngăn cách với khu vực bên ngoài, một mặt nhà xưởng còn lại được xây kín bằng tường gạch (chung tường với công ty khác), có cổng/cửa ra, vào riêng biệt. Cục Hải quan Bắc Ninh đề xuất, căn cứ kết quả kiểm tra thực tế, trường hợp nhà xưởng có mặt chung tường với công ty khác nhưng có cổng/cửa ra vào riêng biệt đảm bảo việc đưa hàng ra, vào doanh nghiệp chế xuất chỉ qua cổng, cửa thì cơ quan Hải quan xác nhận đáp ứng điều kiện kiểm tra giám sát hải quan theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 28a.

Trước đề xuất này, theo Tổng cục Hải quan, khoản 1 Điều 28a Nghị định 134/2016/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung tại khoản 10 Điều 1 Nghị định 18/2021/NĐ-CP quy định về điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan đối với doanh nghiệp chế xuất, các cục hải quan tỉnh thành phố thực hiện kiểm tra thực tế điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan. Trên cơ sở kết quả kiểm tra thực tế, cơ quan Hải quan thực hiện đối chiếu với các quy định nêu trên để kết luận.

Nụ Bùi