Quản lý thuế thương mại điện tử: Các cơ quan quản lý sẽ phải cung cấp đầy đủ thông tin

15:49 | 10/11/2020

(HQ Online) - Theo Nghị định 126/2020/NĐ-CP, các cơ quan quản lý nhà nước phải có trách nhiệm cung cấp thông tin về người nộp thuế có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử.

Quản lý thuế thương mại điện tử: Khó chồng khó
Quản lý thuế thương mại điện tử: Giám sát chặt chẽ nhiều chiều
Quản lý thuế thương mại điện tử: Rà soát từ cá nhân nhỏ lẻ đến tổ chức cung cấp dịch vụ
3429-img-3004
Để quản lý thuế thương mại điện tử, cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế. Ảnh: PV

Trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan quản lý nhà nước

Theo Điều 26 của Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế, cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế, trong đó, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng ký hợp tác xã phải gửi thông tin cấp mới; thay đổi; tạm ngừng kinh doanh; tiếp tục hoạt động sau tạm ngừng kinh doanh; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp... cho cơ quan quản lý thuế.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định trách nhiệm cụ thể trong việc cung cấp thông tin của Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội...

Trong đó, đáng chú ý, Nghị định 126 quy định Bộ Công Thương và cơ quan quản lý nhà nước về thương mại có trách nhiệm cung cấp thông tin về chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của Việt Nam và nước ngoài, chuyển khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, tình hình xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý chuyên ngành.

Ngoài ra, Bộ Công Thương và cơ quan quản lý nhà nước về thương mại cũng phải cung cấp thông tin quản lý thị trường về phòng, chống, xử lý các hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ; hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng, đo lường, giá, an toàn thực phẩm và gian lận thương mại; hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Đặc biệt, để quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử, Bộ Công Thương phải có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động thương mại điện tử, nhượng quyền thương mại, nội dung thông tin giấy phép hoạt động thương mại điện tử, nhượng quyền thương mại, thông tin liên quan trong quản lý thuế đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động thương mại điện tử, nhượng quyền thương mại; thông tin về các hoạt động chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ, chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, cung cấp thông tin khác theo quy định tại Luật Quản lý thuế và pháp luật có liên quan.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng phải có trách nhiệm phối hợp Bộ Tài chính chỉ đạo, hướng dẫn ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán được Ngân hàng Nhà nước cấp phép trong việc kết nối, cung cấp thông tin với cơ quan quản lý thuế liên quan đến giao dịch qua ngân hàng của tổ chức, cá nhân và phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế; phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành có liên quan trong việc thiết lập cơ chế quản lý, giám sát các giao dịch thanh toán xuyên biên giới trong thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác với tổ chức, cá nhân ở Việt Nam; cung cấp thông tin về việc thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế đối với nhà cung cấp ở nước ngoài khi có giao dịch thanh toán giữa nhà cung cấp ở nước ngoài với người mua hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam và cung cấp thông tin khác theo quy định tại Luật Quản lý thuế và pháp luật có liên quan.

Các trường hợp được công khai thông tin người nộp thuế

Nghi định 125 đã quy định rất rõ cơ quan quản lý thuế có thể công khai thông tin về người nộp thuế trong một số trường hợp.

Cụ thể, khi người nộp thuế có các hành vi trốn thuế, tiếp tay cho hành vi trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, vi phạm pháp về thuế rồi bỏ trốn khỏi trụ sở kinh doanh; không nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật hiện hành.

Đặc biệt, thông tin người nộp thuế sẽ bị công khai khi không thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật như: từ chối cung cấp thông tin tài liệu cho cơ quan quản lý thuế, không chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra và các yêu cầu khác của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật. Nhất là khi người nộp thuế chống, ngăn cản công chức thuế, công chức hải quan thi hành công vụ.

Nội dung công khai thông tin sẽ bao gồm: mã số thuế, tên người nộp thuế, địa chỉ, lý do công khai. Tùy theo từng trường hợp cụ thể cơ quan quản lý thuế có thể công khai chi tiết thêm một số thông tin liên quan của người nộp thuế,

Thông tin người nộp thuế sẽ bị đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế các cấp và trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thùy Linh