Đảm bảo chính sách ưu đãi thuế được thực hiện có chọn lọc

16:02 | 30/04/2021

(HQ Online) - Khi nghiên cứu ban hành, triển khai chính sách ưu đãi thuế cần phải có chọn lọc, đảm bảo minh bạch, đơn giản, phù hợp với nguyên tắc hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là nhận định của PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, giảng viên cấp cao Học viện Tài chính về các chính sách ưu đãi thuế với doanh nghiệp tại Việt Nam.

1251-pgs-dinh-trong-thin
PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, giảng viên cấp cao Học viện Tài chính

Hiện nay, ưu đãi thuế là một việc không thể thiếu nhằm thu hút đầu tư, phát triển kinh tế. Ông đánh giá như thế nào về vấn đề này?

Ưu đãi thuế là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách thuế của Việt Nam kể từ khi thực hiện cải cách và mở cửa nền kinh tế đến nay. Các hình thức ưu đãi thuế ở Việt Nam khá đa dạng, bao gồm ưu đãi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hay các hình thức ưu đãi qua áp dụng cơ chế khấu hao nhanh hay cơ chế trích lập Quỹ Khoa học và công nghệ tại doanh nghiệp...

Cùng với các biện pháp kinh tế khác, việc áp dụng các chính sách ưu đãi thuế thời gian qua đã góp phần quan trọng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng sản xuất. Việt Nam đã trở thành địa chỉ đầu tư hấp dẫn đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Theo tôi, việc áp dụng ưu đãi thuế đã có nhiều tác động tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam. Đó là thu hút thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế, góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài; thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành, lĩnh vực, cơ cấu vùng miền. Đồng thời ưu đãi thuế cũng giúp cho gia tăng xuất khẩu và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang công nghiệp chế biến, chế tạo và thúc đẩy chuyển giao công nghệ.

Bên cạnh những ưu điểm, thực tế thời gian qua, chính sách ưu đãi thuế không tránh khỏi những vướng mắc, bất cập. Ông nhận định về vấn đề này như thế nào?

Thực tiễn thực hiện các chính sách ưu đãi thuế ở Việt Nam thời gian qua cũng chỉ ra một số vấn đề cần phải sớm được nhận diện, nhất là khi xem xét một cách đầy đủ hiệu quả của các chính sách này trong mối tương quan với các chi phí gián tiếp và trực tiếp mà việc áp dụng ưu đãi gây ra. So với nhiều quốc gia trong khu vực, mức độ ưu đãi trong hệ thống chính sách thuế của Việt Nam là tương đối cao.

Cùng với đó, danh mục ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn được hưởng ưu đãi thuế cũng khá rộng. Thực tiễn này vô hình trung đã làm giảm vai trò “định hướng” của chính sách ưu đãi thuế trong việc thực hiện các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội. Ví dụ, hiện nay, tất cả các khu kinh tế đều áp dụng chung một cơ chế ưu đãi như nhau mà không gắn với đặc điểm và mức độ phát triển về điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng trong từng khu kinh tế.

Phạm vi ưu đãi rộng đồng nghĩa với việc chi phí của việc áp dụng các chính sách ưu đãi thuế cao, nhất là đối với nguồn thu ngân sách nhà nước.

Đặc biệt, mặc dù theo quy định, trong hệ thống chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam hiện nay không có sự phân biệt theo loại hình doanh nghiệp nhưng trên thực tế trong những năm vừa qua, các doanh nghiệp FDI được hưởng lợi nhiều nhất từ các chính sách ưu đãi thuế trong khi mức độ tiếp cận của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.

Vậy, thời gian tới, để chính sách ưu đãi thuế thực sự mang lại lợi ích cho doanh nghiệp cũng như phát triển kinh tế, theo ông, các chính sách này cần được định hướng như thế nào?

Theo tôi, để đảm bảo hiệu quả, việc xây dựng và áp dụng chính sách ưu đãi thuế phải có chọn lọc, có trọng điểm, minh bạch và đơn giản dựa trên nguyên tắc thị trường và phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ nhất, thực hiện rà soát, đánh giá tổng thể các chính sách ưu đãi thuế để có các điều chỉnh, sửa đổi phù hợp. Cụ thể, nghiên cứu giảm dần sự phụ thuộc quá lớn vào việc áp dụng hình thức ưu đãi về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn để chuyển sang áp dụng hình thức ưu đãi thuế khác, hiệu quả hơn.

Thứ hai, rà soát để thu hẹp danh mục ngành, nghề và địa bàn được hưởng ưu đãi thuế, đảm bảo chính sách ưu đãi thuế được thực hiện có chọn lọc, gắn với các chủ trương, định hướng của Chính phủ.

Việc lựa chọn các ngành, nghề cần ưu đãi phải được cân nhắc trên cơ sở phân tích về lợi ích - chi phí một cách cẩn trọng. Chính sách ưu đãi thuế phải hướng vào các ngành, nghề có khả năng tạo ra các “ngoại ứng tích cực cho nền kinh tế”, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam đổi mới, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, tập trung vào các ngành, nghề mà Việt Nam có thể phát huy lợi thế so sánh, có dư địa để phát triển.

Thứ ba, cần đẩy mạnh quá trình hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Cùng với việc hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế, cần có các giải pháp đồng bộ khác ở tầm vĩ mô và vi mô để đảm bảo xây dựng cho được một môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn, minh bạch và đảm bảo sự tiếp cận dễ dàng, bình đẳng với chi phí hợp lý của các nhà đầu tư đối với các cơ hội kinh doanh cũng như trong việc thụ hưởng các lợi ích do chính sách ưu đãi thuế mang lại giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Xin cảm ơn ông!

Bảo Minh