7 thách thức lớn từ EVFTA với doanh nghiệp nhỏ và vừa

11:11 | 05/06/2020

(HQ Online) - Rào cản kỹ thuật, các biện pháp phòng vệ thương mại, thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh hay chịu áp lực cạnh tranh ngay trên “sân nhà”… là hàng loạt thách thức mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phải đối mặt trước Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA).

7 thach thuc lon tu evfta voi doanh nghiep nho va vua Đáp ứng quy tắc xuất xứ - “chìa khóa" tận dụng tốt EVFTA
7 thach thuc lon tu evfta voi doanh nghiep nho va vua Khấp khởi với EVFTA nhưng đừng lơ là phòng vệ thương mại
7 thach thuc lon tu evfta voi doanh nghiep nho va vua Sẵn sàng tận dụng cơ hội từ EVFTA
7 thach thuc lon tu evfta voi doanh nghiep nho va vua
Bên cạnh sự hỗ trợ của Chính phủ, các doanh nghiệp cũng cần nhiều nỗ lực để có thể tận dụng được cơ hội từ EVFTA. Ảnh: Nguyễn Huế

7 thách thức

Phát biểu tại Hội nghị "Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tận dụng cơ hội thực thi hiệu quả Hiệp định EVFTA" sáng nay 5/6, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh nhấn mạnh, trong quá trình thực thi các FTA từ trước tới nay, có nhiều vấn đề mà cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ cần rút kinh nghiệm.

Điển hình như khả năng tiếp cận, nắm bắt về khía cạnh thông tin pháp luật, nội dung cam kết trong các hiệp định cho tới quá trình thực thi... Dường như vẫn còn khoảng cách giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng động doanh nghiệp.

“Việt Nam có tới 97% là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên yêu cầu, đòi hỏi đặt ra là rất lớn”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nói.

Ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nhấn mạnh, cơ hội mang lại từ EVFTA là rất lớn, nhưng thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia Hiệp định này cũng không hề nhỏ.

Nói đến thị trường EU là nói đến thị trường của 27 quốc gia với dân số khoảng hơn 450 triệu người, với thu nhập bình quân đầu người khoảng 36.000 USD. Đây là một thị trường rất khó tính, đòi hỏi về chất lượng sản phẩm cao.

Thách thức thứ nhất được ông Thân đề cập tới là về các rào cản kỹ thuật. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với một loạt thách thức như: An toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh dịch tễ, quy tắc ứng xử, các quy định về bảo vệ môi trường, về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu vào EU, các quy định về tỷ lệ nội địa hóa sẽ gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp….

Thứ hai là sức ép cạnh tranh với hàng hóa của EU. Ông Thân phân tích, khi mở cửa thị trường Việt Nam cho hàng hóa của EU, đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chấp nhận cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp EU.

Đây vốn là những doanh nghiệp rất bài bản, hàng hóa của họ có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, có sức cạnh tranh rất cao nhờ được hưởng lợi từ việc miễn thuế của EVFTA. Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ chịu áp lực cạnh tranh rất lớn ngay trên “sân nhà”.

Thách thức thứ ba là ở góc độ các biện pháp phòng vệ thương mại. Theo các chuyên gia thương mại, khi hàng rào thuế quan không còn là công cụ hữu hiệu để bảo vệ các doanh nghiệp, các thị trường nhập khẩu thường có xu hướng áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp hay tự vệ để bảo vệ sản xuất nội địa.

“EU cũng không phải là ngoại lệ, thậm chí EU là một thị trường thường xuyên sử dụng các công cụ này, cho nên đây cũng là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp của chúng ta”, ông Thân nhấn mạnh.

Thách thức thứ tư là cạnh tranh nguồn lao động. Khi nền kinh tế mở cửa theo các cam kết EVFTA, các quá trình dịch chuyển sản xuất bắt đầu hình thành và làn sóng các nhà đầu tư từ EU sẽ tràn vào nước ta, tạo ra sự cạnh tranh về nguồn lao động trong các ngành. Vậy nên sẽ có các ngành nghề sẽ thiếu lao động cục bộ.

Ngoài các vấn đề trên, 3 thách thức nổi cộm được ông Nguyễn Văn Thân đề cập tới là doanh nghiệp Việt thiếu thông tin thị trường EU cũng như những thông tin về các quy định của EU về hàng hóa nhập khẩu vào thị trường này; các doanh nghiệp Việt Nam chưa được chuẩn bị kiến thức, kỹ năng đầy đủ về xuất khẩu hàng hóa sang EU; đồng thời doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam thiếu vốn cho sản xuất, kinh doanh.

Đã có kế hoạch hành động

Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa kiến nghị, Chính phủ cần đẩy nhanh hơn nữa tiến trình cải cách các thủ tục hành chính, cùng với đó là chỉ đạo rà soát, hoàn thiện thể chế, chính sách, để xuất và trình Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung, kịp thời thông qua một số đạo luật quan trọng như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo vệ môi trường, Bộ luật Lao động và một số luật về thuế để phù hợp với các quy định của EVFTA, để các doanh nghiệp có cơ sở pháp lý, thực thi một cách hiệu quả Hiệp định EVFTA.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần chỉ đạo các bộ ngành hữu quan thông qua các phương tiện truyền thông, tích cực và tăng cường triển khai tuyên truyền về nội dung của Hiệp định và hướng dẫn thực hiện các nội dung cam kết, các quy định nêu trong EVFTA thông qua các khóa tập huấn về EVFTA, để nâng cao hiểu biết, nhận thức cho các doanh nghiệp, giúp họ thực thi Hiệp định hiệu quả.

“Ngoài ra, cần tăng nguồn lực tài chính và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn vay với mức lãi suất cho vay ưu đãi để triển khai các dự án EVFTA”, Chủ tịch Nguyễn Văn Thân nói.

Đáp lại những đề xuất, kiến nghị của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh khẳng định, phần lớn nội dung kiến nghị nêu trên đều đã được đề cập trong Kế hoạch hành động của Chính phủ để triển khai EVFTA. Kế hoạch này sẽ được ban hành ngay sau khi Quốc hội phê chuẩn Hiệp định.

“Doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn là trọng tâm trong các chương trình hành động của Chính phủ. Những chương trình như chương tình xúc tiến thương mại quốc gia, chương trình phát triển công nghiệp phụ trợ, tái cơ cấu ngành công nghiệp... sắp tới đều tập trung hướng vào doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chính sách sẽ được cụ thể hóa trong chương trình phối hợp giữa Bộ Công Thương và các bộ, ngành, địa phương”, người đứng đầu Bộ Công Thương nhấn mạnh.

Dự kiến, ngày 8/6 tới, Quốc hội sẽ xem xét phê chuẩn Hiệp định EVFTA. Hiệp định này có thể có hiệu lực sớm nhất từ tháng 7/2020.

Ngay sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, EU cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Đối với một số ít mặt hàng còn lại (tương đương khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu), EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan (TRQ) với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%. Như vậy, có thể nói gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn (7 năm).

Thanh Nguyễn