Khấp khởi với EVFTA nhưng đừng lơ là phòng vệ thương mại

17:43 | 03/06/2020

(HQ Online) - Tính đến nay, EU đã điều tra 14 vụ việc phòng vệ thương mại (PVTM), bao gồm 6 vụ việc điều tra chống lẩn tránh thuế PVTM liên quan đến hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đứng thứ 5 trong số các nước điều tra và chiếm khoảng 8% tổng số vụ việc PVTM với hàng hóa của Việt Nam.

khap khoi voi evfta nhung dung lo la phong ve thuong mai Tham gia nhiều FTA, hàng Việt nơm nớp lo kiện lẩn tránh thuế
khap khoi voi evfta nhung dung lo la phong ve thuong mai Việt Nam khởi kiện phòng vệ thương mại chưa bằng 1/10 bị kiện
khap khoi voi evfta nhung dung lo la phong ve thuong mai Xung đột gia tăng, Việt Nam đối mặt 160 vụ kiện phòng vệ thương mại
khap khoi voi evfta nhung dung lo la phong ve thuong mai
Thép là mặt hàng điển hình bị EU điều tra phòng vệ thương mại. Ảnh: Phan Trâm

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) đang được Quốc hội xem xét phê chuẩn. Dự kiến, Hiệp định này có thể có hiệu lực sớm nhất vào tháng 7/2020.

EVFTA mở ra nhiều cơ hội thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU rộng lớn. Tuy nhiên, việc thị trường EU áp dụng nhiều biện pháp PVTM như chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ nhằm hỗ trợ các ngành sản xuất trong nước khi phải cạnh tranh với sự gia tăng của hàng nhập khẩu là điều mà doanh nghiệp Việt cần đặc biệt quan tâm.

Số liệu từ Bộ Công Thương cho thấy, tính đến nay, EU đã điều tra 14 vụ việc PVTM, bao gồm 6 vụ việc điều tra chống lẩn tránh thuế PVTM liên quan đến hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đứng thứ 5 trong số các nước điều tra và chiếm khoảng 8% tổng số vụ việc PVTM với hàng hóa của Việt Nam.

Các sản phẩm bị điều tra bao gồm: Giày mũ da, ống thép, ốc vít, xe đạp, sợi, thép, xe tay nâng, bật lửa ga, vòng khuyên kim loại, đèn huỳnh quang, ô xít kẽm, mỳ chính. Hiện nay, chỉ có biện pháp tự vệ với thép (2018) là đang còn hiệu lực.

Về quy định PVTM trong EVFTA, Bộ Công Thương nêu rõ, về cơ bản, nội dung PVTM dựa trên các quy định của WTO, đồng thời bổ sung các nguyên tắc mang tính tiến bộ, phù hợp với hệ thống pháp luật về PVTM của Việt Nam.

Có 2 điểm mới cơ bản về PVTM trong Hiệp định EVFTA. Thứ nhất, EVFTA bổ sung các quy định giới hạn việc sử dụng các công cụ để tránh lạm dụng và đảm bảo công bằng, minh bạch. Các quy định này tạo ra môi trường kinh doanh ổn định và thuận lợi hơn cho doanh nghiệp xuất khẩu.

Thứ hai, EVFTA quy định nguyên tắc áp dụng mức thuế thấp hơn, tức là thuế chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp chỉ ở mức đủ để loại bỏ thiệt hại (trong khi WTO không bắt buộc sử dụng quy tắc này).

Một điểm đáng lưu ý là theo cam kết EVFTA, hai bên sẽ không áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp nếu việc này không phù hợp với lợi ích công cộng (tức là bên cạnh việc xem xét tình hình của ngành sản xuất trong nước thì nước điều tra cũng cần xem xét tình hình, quan điểm của nhà nhập khẩu, hiệp hội ngành hàng, tổ chức đại diện người tiêu dùng và các doanh nghiệp hạ nguồn).

Ngoài ra, đại diện Bộ Công Thương cho hay, EVFTA cũng quy định về cơ chế tự vệ song phương, để đảm bảo việc cắt giảm thuế quan theo Hiệp định không gây ra các cú “sốc” đối với các ngành sản xuất trong nước.

Hiệp định EVFTA quy định cơ chế tự vệ song phương trong thời gian chuyển đổi là 10 năm, tạo cơ sở pháp lý đảm bảo được quyền lợi của các bên được sử dụng công cụ tự vệ chính đáng trong việc bảo vệ ngành sản xuất trong nước nếu có thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại do việc cắt giảm thuế quan từ Hiệp định.

Xung quanh câu chuyện ứng phó với PVTM nói chung, trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, ông Lê Triệu Dũng, Cục trưởng Cục PVTM (Bộ Công Thương) đánh giá, để giảm thiểu khả năng bị áp dụng biện pháp PVTM cần có một chiến lược tổng thể, dài hạn trong việc phát triển chuỗi sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu của Việt Nam.

"Bên cạnh việc chú trọng phát triển theo chiều sâu (tăng giá trị gia tăng trong nước), Việt Nam cũng cần theo dõi kỹ để cánh báo sớm nếu như xuất khẩu của ta sang một số thị trường gia tăng nhanh đột biến”, ông Dũng nói.

Bộ Công Thương nhìn nhận, thời gian tới cần có cơ chế phối hợp hiệu quả hơn giữa các cơ quan liên quan trong quá trình điều tra như: Phát triển, kết nối hệ thống dữ liệu cập nhật về tình hình xuất nhập khẩu giữa Bộ Công Thương và Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính); theo dõi sát diễn biến về giá, lượng nhập khẩu của một số mặt hàng trọng điểm.

Đồng thời, duy trì liên hệ thường xuyên giữa cơ quan quản lý nhà nước và các hiệp hội ngành hàng; cần tăng cường năng lực của cán bộ điều tra, bổ sung nhân lực để đảm bảo hiệu quả của công tác điều tra...

Thanh Nguyễn