Bộ Tài chính không có thẩm quyền ban hành quy định thu phí thẩm định đề án đóng, mở cửa mỏ

09:41 | 19/10/2021

(HQ Online) - Theo các quy định hiện hành, Bộ Tài chính không có cơ sở để ban hành quy định thu phí thẩm định đề án đóng cửa mỏ, nghiệm thu thực hiện đề án đóng cửa mỏ.

Bộ Tài chính: Sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền về kiến nghị giảm tiền thuê đất
Bộ Tài chính: Không xem xét bỏ quy định nộp thuế VAT với vải trong nước sử dụng may xuất khẩu
Sửa hướng dẫn về phí, lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố
Ảnh: Internet.
Bộ Tài chính không có cơ sở để ban hành quy định thu phí thẩm định đề án đóng cửa mỏ, nghiệm thu thực hiện đề án đóng cửa mỏ. Ảnh: Internet.

Mới đây, cử tri tỉnh Hà Nam đã có đề nghị gửi Bộ Tài chính về việc ban hành Thông tư hướng dẫn quy định mức thu phí thẩm định đề án đóng cửa mỏ, quy định mức hỗ trợ địa phương và người dân nơi có khoáng sản của các tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác khoáng sản theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Khoáng sản và khoản 1 Điều 16 Nghị định 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ.

Phản hồi với cử tri, Bộ Tài chính cho biết, về phí thẩm định đề án đóng cửa mỏ, tại Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí không quy định phí thẩm định đề án đóng cửa mỏ, nghiệm thu thực hiện đề án đóng cửa mỏ. Cũng tại Luật Khoáng sản không quy định về phí thẩm định đề án đóng cửa mỏ, nghiệm thu thực hiện đề án đóng cửa mỏ.

Chính vì vậy, Bộ Tài chính không có cơ sở để ban hành quy định thu phí thẩm định đề án đóng cửa mỏ, nghiệm thu thực hiện đề án đóng cửa mỏ.

Đáng chú ý, liên quan đến nội dung này, ngày 1/8/2018, Bộ Tài chính đã có công văn số 9186/BTC-CST đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát, báo cáo Chính phủ xem xét bãi bỏ khoản 4 Điều 45 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản: "Bộ Tài chính quy định mức thu, quản lý, sử dụng phí thẩm định đề án đóng cửa mỏ, nghiệm thu thực hiện đề án đóng cửa mỏ".

Đối với quy định mức hỗ trợ địa phương và người dân nơi có khoáng sản, tại khoản 2 Điều 5 Luật Khoáng sản quy định: tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản có trách nhiệm hỗ trợ chi phí đầu tư nâng cấp, duy tu, xây dựng hạ tầng kỹ thuật sử dụng trong khai thác khoáng sản và xây dựng công trình phúc lợi cho địa phương nơi có khoáng sản được khai thác theo quy định của pháp luật.

Cùng với đó cũng cần kết hợp khai thác với xây dựng hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ, phục hồi môi trường theo dự án đầu tư khai thác khoáng sản; nếu gây thiệt hại đến hạ tầng kỹ thuật, công trình, tài sản khác thì tùy theo mức độ thiệt hại phải có trách nhiệm sửa chữa, duy tu, xây dựng mới hoặc bồi thường theo quy định của pháp luật. Đồng thời ưu tiên sử dụng lao động địa phương vào khai thác khoáng sản và các dịch vụ có liên quan.

Các tổ chức, cá nhân cũng phải cùng với chính quyền địa phương bảo đảm việc chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân có đất bị thu hồi để khai thác khoáng sản.

Ngoài ra, tại Điều 16 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP quy định, việc hỗ trợ địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Khoáng sản do tổ chức, cá nhân khai thác trực tiếp thực hiện. Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải thông báo nội dung, khối lượng: kế hoạch, chương trình thực hiện các công việc, các hạng mục công trình hỗ trợ đến Ủy ban nhân dân cấp xã; thông báo công khai đến tổ dân phố/thôn/bản để người dân nơi có khoáng sản cử đại diện tham gia giám sát quá trình thực hiện.

Bộ Tài chính cho biết, Luật Khoáng sản và Nghị định số 158/2016/NĐ-CP không giao Bộ Tài chính quy định mức hỗ trợ địa phương và người dân nơi có khoáng sản của các tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác khoáng sản. Vì vậy, Bộ Tài chính không có thẩm quyền quy định mức hỗ trợ.

Thùy Linh