Nợ công đã an toàn hơn

10:27 | 13/06/2019

(HQ Online) - Đó là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra.

no cong da an toan hon 106521 Sự an toàn của nợ công được đánh giá dựa trên những chỉ tiêu nào?
no cong da an toan hon 106521 PEMNA: Việt Nam cần tiếp tục cải cách hệ thống thuế, tạo thuận lợi cho đầu tư và tăng trưởng
no cong da an toan hon 106521 4 điểm nổi bật của công tác quản lý nợ công
no cong da an toan hon 106521 Nâng cao năng lực quản lý tài chính để quản lý tốt nợ công
no cong da an toan hon 106521
Giảm nợ nước ngoài, tăng vay trong nước là một trong những giải pháp giúp nợ công an toàn hơn. Ảnh: S.T.

“Mất anh em, bạn bè” vì nợ công

Mỗi kỳ Quốc hội, vấn đề nợ công luôn được các đại biểu quan tâm và đặt dấu hỏi. Trong kỳ họp thứ 7 lần này, để mang đến cho các đại biểu Quốc hội cái nhìn tổng quan về tình hình nợ công hiện tại, Bộ Tài chính đã chắp bút trình Chính phủ gửi tới Quốc hội một bản báo cáo tổng thể về tình hình nợ công 2018 và các vấn đề đặt ra cũng như giải pháp.

Báo cáo nêu rõ: Các chỉ tiêu nợ được kiểm soát chặt chẽ và nằm trong giới hạn theo các Nghị quyết của Quốc hội, góp phần quan trọng trong việc tiếp tục cải thiện mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam. Cụ thể: Chỉ tiêu nợ công đạt 58,4% GDP, thấp hơn mức trần là 65%; nợ Chính phủ đạt 50% GDP, trần là 54%; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ là 15,9% tổng thu NSNN, thấp hơn nhiều so với yêu cầu là 25%; nợ nước ngoài quốc gia là 46% GDP, cũng chưa chạm trần 50% mà Quốc hội đặt ra.

Bên cạnh đó, việc tổ chức huy động vốn vay của Chính phủ được thực hiện theo đúng Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch trung hạn và hàng năm. Thực hiện điều chỉnh cơ cấu và khối lượng vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn cũng như điều kiện thị trường. Năm 2018, đã huy động vốn vay trong nước 250,5 nghìn tỷ đồng để đáp ứng nhu cầu bù đắp bội chi ngân sách trung ương và trả nợ gốc, đạt 90,8% so với kế hoạch và chiếm 78,6% cơ cấu vay vốn của Chính phủ, trong đó kênh phát hành trái phiếu Chính phủ vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ đạo. Các kỳ hạn phát hành trái phiếu Chính phủ được đa dạng hóa, tập trung phát hành kỳ hạn dài từ 10 năm trở lên (chiếm trên 90% tổng khối lượng huy động, tăng mạnh so với mức 70,5% năm 2017) để tiếp tục cơ cấu lại danh mục nợ trái phiếu Chính phủ với mức lãi suất hợp lý. Kỳ hạn phát hành bình quân duy trì ở mức cao là 12,7 năm.

Cũng trong năm 2018, giải ngân vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ khoảng 3.010 triệu USD, chiếm 21,4% cơ cấu huy động vốn của Chính phủ. Việc thực hiện nghĩa vụ trả các khoản gốc, lãi của Chính phủ nằm trong mức đã được phê duyệt tại các Nghị quyết của Quốc hội, đảm bảo đầy đủ, đúng hạn theo cam kết.

Trải lòng về bội chi và nợ công trong một phiên họp của Quốc hội vừa qua, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng khẳng định: “Những năm gần đây đã được quản lý chặt chẽ trên tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị, của Quốc hội. Chúng tôi thực hiện rất nghiêm, nhiều khi mất anh em, mất bạn bè vì quản lý bội chi, nợ công. Địa phương thì ai cũng muốn vay nhưng chúng ta có luật lệ phải làm đúng. Việc này rất quan trọng để ổn định vĩ mô”.

Trả lời câu hỏi “Vì sao nói nợ công an toàn hơn?”, Bộ trưởng dẫn chứng: Năm 2017, 2018 và đầu năm 2019, huy động trái phiếu Chính phủ chủ yếu có kỳ hạn trên 10 năm, ít số lượng kỳ hạn 5 năm, danh mục nợ còn lại hiện khoảng 6,7 – 6,8 năm. Bình quân huy động còn lại lên 12 – 13 năm. “Nếu nhìn lại 5 năm trước, danh mục còn lại của chúng ta chỉ có 1,7 – 1,8 năm, phải vay đảo liên tục. Về nghĩa vụ trả nợ Chính phủ, những năm 2011 – 2013, vay có lúc lãi suất 11 – 13% nhưng năm 2017 chỉ khoảng 5,9%, năm 2018 khoảng 4,6%/năm, năm 2019 cũng tương tự. Khi làm việc với các tổ chức quốc tế, tôi nói phải xem lại chính sách cho Việt Nam vay. Chúng ta đã tốt nghiệp IDA (nguồn vốn ưu đãi của Ngân hàng Thế giới), vay toàn ưu đãi, chúng ta vay ưu đãi 2 – 3% nhưng tính cả trượt giá ngoại tệ có thể lên đến 6 – 7%, cao hơn cả vay trong nước, chưa kể còn nhiều yếu tố phụ thuộc, từ đấu thầu, thiết bị… Nói vậy không phải không vay nước ngoài mà phải xử lý hợp lý để cơ cấu nợ công tốt, kỳ hạn, lãi suất tốt. Bội chi ngân sách số tuyệt đối 3 năm liền cũng đều giảm so với dự toán nên tôi đánh giá hướng đang đi rất tốt. Tốc độ gia tăng nợ công giai đoạn 2011 – 2015 khoảng 18% năm nhưng giai đoạn 2016 – 2018 thì chỉ còn trên 8%, giảm một nửa.” – người đứng đầu ngành Tài chính nói.

Vẫn còn nhiều nguy cơ

Nói là an toàn nhưng không phải không có những nguy cơ. Theo ông Võ Hữu Hiển – Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, Bộ Tài chính, hiện nay, có 1 số vấn đề thực tế đặt ra đang có tác động đến sự an toàn của nợ công tại Việt Nam, đó là việc các khoản vay sắp đến hạn trả. Ví dụ: Nhiều khoản vay trong nước cơ bản sẽ đến hạn sau 5 năm vay, tức là năm 2020-2021 tới đây, một số khoản vay ODA, kể cả có lãi và không lãi cũng đến hạn phải trả nợ gốc vào năm 2020,… làm gia tăng áp lực trả nợ vào thời gian tới. Bên cạnh đó là lãi suất. Khi được công nhận là nước có thu nhập trung bình, Việt Nam không được hưởng các khoản vay ưu đãi nhiều nữa, chưa kể một số khoản vay phải chịu lãi suất thả nổi với nhiều rủi ro; ngoài ra là rủi ro tái cấp vốn, tăng nghĩa vụ trả nợ,…

Một số thách thức khác trong báo cáo của Bộ Tài chính cũng đã đề cập là rủi ro tái cấp vốn tập trung vào các khoản nợ trong nước của Chính phủ do nghĩa vụ trả nợ đến hạn tập trung cao vào một số năm. Điều này sẽ tác động đến việc bố trí nguồn trả nợ trong cân đối NSNN, việc giảm dần các khoản vay ưu đãi trong 5 năm tới dẫn đến thiếu hụt nguồn vốn vay dài hạn, ưu đãi cho đầu tư,…

Chia sẻ về giải pháp, ông Hiển cho hay: Bên cạnh các giải pháp vĩ mô đã được triển khai trong những năm qua, tới đây, Bộ Tài chính sẽ tập trung vào việc đồng bộ và hiệu quả các quy định của pháp luật về quản lý nợ công; tổ chức đối chiếu, rà soát, đánh giá, tổng hợp nhu cầu vay của các bộ ngành, địa phương và các đơn vị sử dụng vốn vay công để dự báo tổng mức vay, trả nợ của ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, hạn mức vay về cho vay lại và hạn mức bảo lãnh Chính phủ sau năm 2020; tiếp tục thúc đẩy phát triển thị trường vốn trong nước, thị trường trái phiếu Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện hạn mức nợ nước ngoài theo phương thức tự vay tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng, bảo đảm trong hạn mức được phê duyệt, đặc biệt là các khoản nợ ngắn hạn.

 Hồng Vân