Dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam: Chồng chéo với Luật Hải quan:

Bài 2: Nhiệm vụ Biên phòng có phạm vi rộng, nhiều chồng lấn

08:38 | 04/11/2020

(HQ Online) - Như đề cập ở bài 1, dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam đang có nhiều chồng chéo, vướng mắc với nhiệm vụ của cơ quan Hải quan đã được quy định trong Luật Hải quan. Dưới đây là những phân tích cụ thể của Tổng cục Hải quan.

Quốc hội thảo luận về Luật Biên phòng Việt Nam
Quốc hội thảo luận về Luật Biên phòng Việt Nam và Luật Cư trú (sửa đổi)
Không nên quy định chồng chéo nhiệm vụ của Biên phòng với Hải quan
Độc giả đề nghị quy định rõ trách nhiệm của Biên phòng ở khu vực cửa khẩu
Nhiều điểm chưa rõ ràng, gây chồng chéo thẩm quyền giữa Biên phòng với Hải quan
Dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam: Chồng chéo với Luật Hải quan
Bài 2: Nhiệm vụ Biên phòng có phạm vi rộng, nhiều chồng lấn
Luật Hải quan quy định: Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải để chủ động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Ảnh: T.Bình.

Về nội dung dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam trình Quốc hội ngày 21/10/2020, qua rà soát, Tổng cục Hải quan nhận thấy tại dự thảo Luật quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng đang chồng chéo với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Hải quan.

Cụ thể, khoản 3 Điều 5 dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam quy định nhiệm vụ của Biên phòng “đảm bảo việc thi hành pháp luật ở khu vực biên giới, cửa khẩu”.

Tổng cục Hải quan phân tích: việc quy định như dự thảo có phạm vi rất rộng, chưa rõ ràng. Tại khu vực cửa khẩu có nhiều lực lượng thực thi pháp luật như: Hải quan, Kiểm dịch động vật, Kiểm dịch thực vật, Kiểm dịch y tế, Công an…. Việc quy định như trên được hiểu Biên phòng là lực lượng giám sát, đảm bảo thi hành pháp luật ở tất cả các lĩnh vực của các lực lượng khác tại khu vực biên giới, cửa khẩu, trong khi chức năng này chỉ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện; không phải chức năng của Bộ đội Biên phòng.

Tại điểm d khoản 2 Điều 10 dự thảo quy định nguyên tắc phối hợp thực thi nhiệm vụ biên phòng “Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trên cùng một địa bàn thuộc thẩm quyền xử lý của nhiều cơ quan, tổ chức, lực lượng; cơ quan, tổ chức, lực lượng nào phát hiện trước thì xử lý theo quy định của pháp luật”.

Quy định nêu trên không phù hợp, trùng chéo, mâu thuẫn với quy định của Luật Hải quan.

Khoản 2 Điều 7 Luật Hải quan quy định “Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải và xử lý vi phạm pháp luật về hải quan phù hợp với pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Khoản 1 Điều 88 Luật Hải quan quy định “Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải để chủ động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Trường hợp hàng hóa, phương tiện vận tải chưa đưa ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó báo ngay cho cơ quan Hải quan để kiểm tra, xử lý”.

Khoản 2 Điều 10 và khoản 1 Điều 12 Nghị định số 01/2015/NĐ-CP ngày 10/5/2015 của Chính phủ quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 12/2018/NĐ-CP) quy định: “Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp bảo đảm từng lĩnh vực chỉ có một cơ quan quản lý nhà nước chủ trì thực hiện, tránh sơ hở, chồng chéo, đồng thời không cản trở đến hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước khác”.

Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 01/2015/NĐ-CP ngày 10/5/2015 quy định trách nhiệm “khi cơ quan Hải quan chủ trì thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo quy định của Luật Hải quan…”.

Khoản 1 Điều 2 Quyết định số 19/2016/QĐ-TTg ngày 6/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả quy định “bảo đảm đúng quy định của pháp luật hiện hành về chức năng, nhiệm vụ đối với công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Mỗi địa bàn, lĩnh vực do một cơ quan chịu trách nhiệm chính, chủ trì và tổ chức phối hợp trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; các cơ quan khác có trách nhiệm phối hợp, tham gia với lực lượng chủ trì theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định. Trường hợp phát hiện hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, kinh doanh hàng giả trên địa bàn hoặc lĩnh vực cơ quan khác chủ trì thì cơ quan phát hiện thông báo ngay cho cơ quan có trách nhiệm chủ trì xử lý để phối hợp hỗ trợ lẫn nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ theo chức năng nhiệm vụ được phân công”.

“Như vậy, Luật Hải quan và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã giao cơ quan Hải quan trong địa bàn hoạt động hải quan chủ trì thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Việc dự thảo Luật Biên phòng quy định như trên là không phù hợp, trùng chéo với Luật Hải quan”- văn bản Tổng cục Hải quan nhấn mạnh.

Tại khoản 5 Điều 13 dự thảo Luật quy định về nhiệm vụ của Biên phòng “Kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu do Bộ Quốc phòng quản lý; kiểm soát qua lại biên giới”; khoản 3 Điều 14 dự thảo Luật “Áp dụng các hình thức... kiểm tra, kiểm soát, xử lý phương tiện khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật”.

Theo Tổng cục Hải quan, dự thảo quy định nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng kiểm soát xuất nhập cảnh, kiểm soát qua lại biên giới (là nội dung mới bổ sung nhưng không giới hạn phạm vi, đối tượng kiểm soát) được hiểu là kiểm soát toàn bộ các hoạt động qua lại biên giới trong đó bao gồm hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện xuất nhập cảnh. Điều này trùng chéo với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hải quan đã được quy định tại Luật Hải quan 2014.

Trường hợp dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam với những quy định trên được thông qua sẽ dẫn đến 2 cơ quan (Hải quan và Biên phòng) cùng thực hiện một nhiệm vụ làm thủ tục, kiểm tra, giám sát, kiểm soát cho 1 phương tiện xuất nhập cảnh; hàng hóa xuất nhập khẩu.

Điều này không phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước, Chính phủ về tạo thuận lợi thương mại và đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Đồng thời, trùng chéo với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Hải quan đang thực hiện theo quy định của Luật Hải quan, làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, kéo dài thời gian thông quan, phiền hà cho doanh nghiệp, phát sinh thêm chi phí (vì cơ quan Hải quan đã làm thủ tục hải quan, thu phí, thuế thì Biên phòng lại làm thủ tục, kiểm tra lại), phát sinh trường hợp cơ quan Hải quan đã cho phép thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện xuất nhập cảnh nhưng Biên phòng chưa kiểm tra thì chưa được thông quan. Điều này không phù hợp với thông lệ quốc tế, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ về cải cách bộ máy và cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu (Nghị Quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 của Chính phủ quy định việc thực hiện những giải pháp, nhiệm vụ để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và cải thiện môi trường kinh doanh).

Thực tiễn, Bộ Quốc phòng đã phải bỏ quy định về kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu khi ban hành Thông tư số 09/2016/TT-BQP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 112/2014/NĐ-CP ngày 21/11/2014 quy định về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền. Mặt khác, Chính phủ đã có Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 chỉ đạo Bộ Quốc phòng nghiên cứu đề xuất việc sửa đổi Điều 9 Pháp lệnh bộ đội biên phòng về thẩm quyền kiểm tra, kiểm soát phương tiện.

Quy định về chức năng kiểm soát của lực lượng Biên phòng cũng không phù hợp với thông lệ quốc tế theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia. Cụ thể, Công ước Quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà thủ tục hải quan 1999 (Việt Nam là thành viên) quy định “Mọi hàng hóa, kể cả phương tiện vận tải, nhập vào hay rời khỏi lãnh thổ Hải quan, bất kể là có phải chịu thuế hải quan và thuế khác hay không, đều là đối tượng kiểm tra Hải quan”.

Thực tiễn tại tất cả các nước trên thế giới, cơ quan Hải quan là cơ quan thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với phương tiện, hành lý xuất nhập cảnh, hàng hóa xuất nhập khẩu.

“Việc quy định như trên dẫn đến tất cả các lực lượng tại cửa khẩu (Hải quan, Biên phòng, Công an, Kiểm dịch, Ban quản lý cửa khẩu…) cùng thực hiện chức năng, kiểm tra, kiểm soát, làm thủ tục cho hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện và người xuất nhập cảnh. Việc quy định như vậy dẫn đến mạnh ai nấy làm, thực hiện pháp luật không thống nhất, hỗn loạn... ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, người dân xuất nhập cảnh. Trường hợp phát sinh buôn lậu, gian lận thương mại sẽ không xác định được trách nhiệm của cơ quan, đơn vị chủ trì chịu trách nhiệm trước Chính phủ, nhà nước trong việc để xảy ra tình trạng này làm tăng rủi ro về buôn lậu, gian lận thương mại”- Tổng cục Hải quan bày tỏ lo ngại.

Trước hàng loạt vướng mắc, bất cập nêu trên, Tổng cục Hải quan đề nghị lãnh đạo Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội và Bộ Tư pháp nghiên cứu, xem xét để hoàn thiện dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam phù hợp với điều ước quốc tế, pháp luật hải quan, pháp luật về thuế, pháp luật khác liên quan đến quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện xuất nhập cảnh tại cửa khẩu biên giới, phù hợp định hướng cải cách bộ máy, thủ tục hành chính mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ đề ra.

Thái Bình