Trồng rừng gỗ lớn kéo giảm phụ thuộc gỗ nhập khẩu

09:30 | 27/04/2022

(HQ Online) - Giá gỗ nguyên liệu NK tăng cao cộng với cước vận chuyển tăng phi mã đã và đang tạo áp lực không nhỏ cho ngành chế biến, XK gỗ. Đẩy mạnh hỗ trợ các DN, hộ gia đình... trồng rừng gỗ lớn là giải pháp quan trọng nhằm giúp toàn ngành từng bước chủ động nguyên liệu, tiến tới thay thế nguồn gỗ NK trong thời gian tới.

Ngành gỗ đối mặt cạnh tranh khốc liệt nguồn nguyên liệu nhập khẩu
Giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu cao “ngất” vì khan nguồn cung
Ngành chế biến, XK gỗ Việt Nam hiện đang phụ thuộc đáng kể nguồn gỗ nguyên liệu NK.  Ảnh: N.Thanh
Ngành chế biến, XK gỗ Việt Nam hiện đang phụ thuộc đáng kể nguồn gỗ nguyên liệu NK. Ảnh: N.Thanh

Hụt nguồn cung, giá tăng

Theo ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ngành chế biến gỗ XK đang trải qua những biến động rất lớn. Đại dịch Covid-19 và gần đây là xung đột giữa Nga-Ukraine làm cho cước vận chuyển tăng phi mã, giá gỗ nguyên liệu NK tăng cao.

Gỗ nguyên liệu chiếm 40-60% trong cơ cấu giá thành sản phẩm đồ gỗ. Trong giai đoạn 2012-2021, mỗi năm Việt Nam NK trung bình hơn 4,8 triệu m3 gỗ nguyên liệu (quy tròn) từ trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2021, Việt Nam NK gần 6 triệu m3 gỗ quy tròn. Trong 3 tháng đầu năm 2022, Việt Nam NK 1,2 triệu m3 gỗ nguyên liệu từ 84 thị trường.

Thống kê từ Tổng cục Hải quan cho thấy, chỉ trong 3 tháng đầu năm 2022, giá gỗ thông tròn NK đã tăng 52%, gỗ thông xẻ NK tăng 38%, gỗ sồi xẻ tăng 36% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, thời gian NK kéo dài dẫn đến các DN thiếu nguyên liệu, phải chậm các hoạt động sản xuất. Các yếu tố này đang trực tiếp làm giảm lợi thế cạnh tranh của ngành.

Ông Nguyễn Vinh Quang, chuyên gia của Tổ chức Forest Trends thông tin thêm, “bức tranh” NK gỗ nguyên liệu có nhiều biến động lớn trong quý đầu năm nay. Giá gỗ NK từ các nguồn hợp pháp (châu Âu, Mỹ) tăng mạnh. Ví dụ như, giá gỗ thông tăng mạnh từ 91 USD/m3 vào đầu năm 2021 lên 139 USD/m3 vào tháng 2/2022, tăng tới 52%. Đối với gỗ nguyên liệu NK từ những khu vực nhiều rủi ro như châu Phi, Campuchia cũng có biến động. Cụ thể, giá gỗ lim NK tăng từ 275 USD/m3 trong tháng 12/2021 lên 561 USD vào tháng 3/2022.

“Tổ chức FSC ngừng toàn bộ hoạt động thương mại có liên quan tới gỗ Nga. Điều này có nghĩa rằng gỗ từ Nga được coi là bất hợp pháp. Ngoài ra, Chính phủ Nga cũng đưa ra lệnh cấm XK gỗ tròn để trả đũa các lệnh trừng phạt của phương tây. Kết quả của các biện pháp trừng phạt và trả đũa là nguồn cung gỗ từ Nga giảm. Hụt một lượng cung lớn về gỗ nguyên liệu đang tạo ra sự cạnh tranh về nguyên liệu giữa các quốc gia NK, đẩy giá gỗ nguyên liệu tăng”, ông Nguyễn Vinh Quang nói.

“Bài toán đặt ra cho ngành hiện nay là làm thế nào Việt Nam chủ động được nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào, tiến tới thay thế nguồn gỗ NK hiện đang ở con số 5-6 triệu m3 mỗi năm. Làm thế nào Việt Nam có thể phát triển được nguồn gỗ nguyên liệu trong nước là gỗ lớn, có chất lượng, đa dạng về chủng loại loài và bền vững? Đây là những vấn đề cấp thiết ngành phải giải quyết trong thời gian tới nếu muốn giữ vững lợi thế cạnh tranh”, ông Lập nhận định.

Cần chính sách tín dụng ưu đãi

Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Chính phủ Việt Nam ưu tiên, khuyến khích việc phát triển gỗ rừng trồng là gỗ lớn, có chứng chỉ bền vững. Điều này đã thể hiện rõ trong “Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2020 -2030 và tầm nhìn tới 2050”, cũng như trong “Đề án phát triển bền vững ngành chế biến gỗ” vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 3/2022.

Tuy nhiên, ông Lập cho rằng, nếu nhìn vào kết quả thực tế đến nay của việc trồng rừng gỗ lớn, đặc biệt là trồng rừng có chứng chỉ bền vững FSC thì thấy còn nhiều hạn chế.

Con số thống kê của nhóm nghiên cứu của các Hiệp hội Gỗ và Forest Trends cho thấy, tính đến hết tháng 3/2022 tổng diện tích rừng trồng là rừng sản xuất có chứng chỉ FSC của Việt Nam đạt gần 180.000 ha, tương đương khoảng 5% trong tổng số diện tích rừng sản xuất của Việt Nam. Tỷ trọng gỗ rừng trồng đi vào chế biến đồ gỗ thấp, chỉ chiếm 30-40% trong tổng lượng gỗ khai thác; phần còn lại 60-70% đi vào ngành dăm và viên nén.

Ông Nguyễn Tiến Lâm, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ và Lâm sản ngoài gỗ Nghệ An cho biết, nhu cầu của DN về gỗ lớn rất lớn nhưng hiện nay các vùng trồng rừng ở Việt Nam không đáp ứng được. "Để giải được bài toán về nhu cầu gỗ lớn, Nhà nước cần đặt hàng các nhà khoa học nghiên cứu tạo ra được các loại giống cây gỗ lớn chất lượng cao để cung cấp cho các DN trồng và nhân rộng diện tích; đồng thời đưa ra quy trình trồng gỗ lớn hiệu quả cao nhất, có thể trồng dược liệu dưới tán cây gỗ lớn...", ông Lâm kiến nghị.

Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Woodsland Tuyên Quang chia sẻ: việc xây dựng vùng trồng rừng gỗ lớn (trước mắt trong phạm vi chứng chỉ rừng được cấp) là mục tiêu và chiến lược của Woodsland. Hiện tại, DN đã cùng phối hợp với các chủ chứng chỉ gồm các công ty lâm nghiệp và nhóm hộ gia đình xây dựng phương án quản lý rừng tối thiểu 7 năm trong kế hoạch quản lý rừng để có thể tạo vùng nguyên liệu gỗ đáp ứng nhu cầu chế biến....

Tuy nhiên, hiện việc duy trì cũng như phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn với chu kỳ rừng trồng 7 năm trở xuống của Woodsland còn gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là vốn đầu tư giữ lại rừng hiện đang rất khó khăn đối với cả các công ty lâm nghiệp và hộ gia đình; chất lượng giống hiện nay đang bị thoái hóa, sâu bệnh trên diện rộng... Bà Tuyết kiến nghị Nhà nước cần có chính sách tín dụng ưu đãi cho người trồng rừng, có cơ chế cho vay vốn cho các công ty lâm nghiệp và hộ gia đình để trồng rừng gỗ lớn; quản lý chặt chẽ hành trình, nguồn gốc giống cây lâm nghiệp trước khi đưa vào ươm giống xuất bán ngoài thị trường...

Nhìn nhận việc trồng rừng gỗ lớn rất khó khăn, phát triển rừng gỗ lớn cần thời gian dài từ 10-15 năm, ông Nguyễn Tuấn Thanh, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bình Định kiến nghị Nhà nước cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ DN để có thể phát triển cả chuỗi từ trồng rừng, thu mua, chế biến và XK...

Thanh Nguyễn