Công khai đánh giá tuân thủ người khai hải quan

10:49 | 03/12/2019

(HQ Online) - Ngày 15/11/2019, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 81/2019/TT-BTC quy định quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2020, Thông tư đã bổ sung thêm đối tượng đánh giá tuân thủ pháp luật, cũng như đánh giá mức độ tuân thủ đối với người khai hải quan.

cong khai danh gia tuan thu nguoi khai hai quan 116384 Hải quan Đà Nẵng chú trọng đánh giá tuân thủ của doanh nghiệp
cong khai danh gia tuan thu nguoi khai hai quan 116384 Tiêu chí đánh giá tuân thủ: Cần đánh giá thêm tác động từ thực tiễn
cong khai danh gia tuan thu nguoi khai hai quan 116384 Thu thập thông tin quyết định đến kết quả đánh giá tuân thủ
cong khai danh gia tuan thu nguoi khai hai quan 116384 Đánh giá tuân thủ gần 89.000 doanh nghiệp
cong khai danh gia tuan thu nguoi khai hai quan 116384
Đơn vị kiểm tra chuyên ngành thực hiện lấy mẫu hàng hóa XNK. Ảnh: N.Linh.

Bổ sung thêm đối tượng đánh giá tuân thủ

Trước đây, tại Quyết định 464/QĐ-BTC ngày 29/6/2015 của Bộ Tài chính về quy định quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, đối tượng điều chỉnh là DN hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.

Hiện nay, để thống nhất với quy định tại Điều 17 Luật Hải quan, Điều 13, Điều 14, Điều 15 Nghị định 08/2015/NĐ-CP, Thông tư 81 bổ sung đối tượng áp dụng là người khai hải quan bao gồm bốn nhóm đối tượng: DN hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; đại lý làm thủ tục hải quan; DN cung ứng dịch vụ bưu chính quốc tế, DN cung ứng dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế; chủ phương tiện, người được chủ phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh ủy quyền. Đồng thời, bổ sung bốn bộ tiêu chí đánh giá tuân thủ tương ứng với bốn đối tượng này và theo các mức độ tuân thủ.

Theo quyền Cục trưởng Cục Quản lý rủi ro Hải quan, Tổng cục Hải quan Nguyễn Nhất Kha, xây dựng và ban hành tiêu chí và chỉ số tiêu chí đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch; các thông tin đưa vào đánh giá tuân thủ phải cụ thể, rõ ràng và chính xác. Mặt khác, tiêu chí và chỉ số tiêu chí được xây dựng dựa trên tần suất, mức độ, phạm vi thời gian vi phạm pháp luật hải quan, pháp luật thuế, pháp luật quản lý chuyên ngành của DN XNK; hành vi của DN có dấu hiệu rủi ro trong hoạt động XNK; thời gian, tần suất hoạt động XNK của DN. Ngoài ra, địa chỉ trụ sở hoạt động của DN và sự hợp tác của DN trong việc cung cấp thông tin phục vụ đánh giá tuân thủ cũng là căn cứ để xây dựng tiêu chí, chỉ số tiêu chí.

5 mức độ đánh giá tuân thủ người khai hải quan

Thông tư 81 quy định cơ quan Hải quan sẽ thực hiện đánh giá phân loại người khai hải quan theo 5 mức độ tuân thủ.

Đó là, DN ưu tiên mức 1 thực hiện Thông tư số 72/2015 của Bộ Tài chính quy định áp dụng chế độ ưu tiên trong thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hóa XK, NK của DN, Thông tư số 07/2019 của Bộ Tài chính sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 72); người khai hải quan tuân thủ mức 2 là người khai hải quan được cơ quan Hải quan đánh giá tuân thủ pháp luật về hải quan ở mức độ cao (so sánh với khung tuân thủ của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO)) và chấp hành tốt pháp luật, các quy định của cơ quan Hải quan, nghĩa vụ về thuế và hợp tác tốt với cơ quan Hải quan trong kiểm tra, giám sát và cung cấp thông tin.

Người khai hải quan tuân thủ mức 3 là người khai hải quan được cơ quan Hải quan đánh giá tuân thủ pháp luật về hải quan ở mức độ trung bình (so sánh với khung tuân thủ của WCO). Người khai hải quan này chấp hành tương đối tốt pháp luật, các quy định của cơ quan Hải quan, nghĩa vụ về thuế và hợp tác tốt với cơ quan Hải quan; trong khoảng thời gian đánh giá còn bị các lỗi hoặc vi phạm (không nghiêm trọng) trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc có những vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu tuân thủ.

Người khai hải quan tuân thủ mức 4 là người khai hải quan được cơ quan Hải quan đánh giá tuân thủ pháp luật về hải quan ở mức độ thấp (so sánh với khung tuân thủ của WCO). Người khai hải quan này không thể hiện rõ ý thức tự nguyện hợp tác với cơ quan Hải quan; trong khoảng thời gian đánh giá, nhiều lần bị các lỗi, vi phạm (không nghiêm trọng) trong hoạt động XNK.

Người khai hải quan tuân thủ mức 5 là người khai hải quan được cơ quan Hải quan đánh giá không tuân thủ pháp luật về hải quan (so sánh với khung tuân thủ của WCO). Người khai hải quan này thể hiện thái độ không hợp tác với cơ quan Hải quan hoặc có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật, các quy định của Hải quan, không chấp hành nghĩa vụ về thuế và/hoặc bỏ địa chỉ kinh doanh theo xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

Cũng theo ông Nguyễn Nhất Kha, việc đánh giá phân loại người khai hải quan theo 5 mức độ tuân thủ phù hợp với khuyến nghị của WCO về phân loại mức độ tuân thủ trong quản lý hải quan. Ngoài ra, việc bổ sung 2 mức độ tuân thủ trong nhóm DN tuân thủ sẽ giúp cho việc phân loại DN tuân thủ được chính xác hơn, qua đó hình thành cơ chế quản lý chặt chẽ và có hiệu quả đối với nhóm DN này. Đồng thời, mở rộng chính sách tạo thuận lợi, thông qua việc hỗ trợ nâng cao năng lực tuân thủ của DN; giảm tỷ lệ kiểm tra trong thông quan và kiểm tra sau thông quan. Cơ quan Hải quan có thể cải tiến các bước trong quy trình thủ tục hải quan, thủ tục nộp thuế để tạo thông thoáng cho hoạt động XNK của nhóm DN này. Bên cạnh đó, khuyến khích, thúc đẩy ý thức tuân thủ của DN thông qua áp dụng các chính sách ưu tiên đối với nhóm DN này; đồng thời qua đó nâng cao tính cạnh tranh bình đẳng của DN trong hoạt động xuất nhập khẩu. Thông qua cơ chế thông thoáng sẽ giảm thiểu sự can thiệp của công chức Hải quan, ngăn ngừa tình trạng tham nhũng, gây phiền hà sách nhiễu DN.

 Quang Hùng