Cần sửa quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng, tiêu chuẩn để phù hợp với thực tiễn

07:21 | 29/09/2021

(HQ Online) - Cục Hải quan Lạng Sơn vừa có đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật để nâng hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK.

Bộ Tài chính: Kiểm soát chặt giá cả vật tư, hàng thiết yếu để ổn định tâm lý người tiêu dùng
Thực hiện thủ tục khai bổ sung nếu đủ cơ sở xác định chỉ tiêu số lượng, đơn giá phù hợp
Thay đổi cơ chế quản lý, kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm tác động tích cực toàn diện
Công chức Hải quan Hữu Nghị kiểm tra hàng hóa NK. 	Ảnh: H.Nụ
Công chức Hải quan Hữu Nghị kiểm tra hàng hóa NK. Ảnh: H.Nụ

Nhiều hạn chế phát sinh

Cục Hải quan Lạng Sơn cho biết, kể từ khi Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật có hiệu lực thi hành qua công tác tổ chức thực hiện, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật ngày càng được hoàn thiện và triển khai khá đầy đủ, mở rộng đến nhiều loại, nhóm sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước và sản phẩm, hàng hóa XNK. Mặc dù vậy, trong quá trình thực hiện, tại địa bàn quản lý của Cục Hải quan Lạng Sơn đã phát sinh những khó khăn, vướng mắc.

Cụ thể, Điều 70 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định, bộ quản lý ngành, lĩnh vực thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo lĩnh vực được phân công và phải ban hành danh mục sản phẩm hàng hóa. Tuy nhiên, tới nay trong danh mục ban hành, nhiều mặt hàng không có mã số HS dẫn đến khó khăn cho cơ quan thực thi trong việc xác định chính xác hàng hóa; tên gọi danh mục… Thậm chí, một sản phẩm hàng hóa có thể thuộc nhiều danh mục khác nhau và bị quản lý bởi nhiều cơ quan quản lý chuyên ngành dẫn đến việc chồng chéo trong công tác quản lý và thực hiện.

Hải quan Lạng Sơn chỉ ra, việc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa hiện nay cũng chỉ mới tập trung vào các sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 (sản phẩm, hàng hóa được quản lý theo quy chuẩn kỹ thuật) hoặc các sản phẩm, hàng hóa có quy định cụ thể về quản lý chất lượng, chưa đi sâu vào công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhóm 1 (sản phẩm, hàng hóa quản lý tiêu chuẩn áp dụng). Trong đó, các bộ, ngành khi xây dựng danh mục hàng hóa, sản phẩm nhóm 2 chưa áp dụng phương thức quản lý rủi ro, đánh giá tuân thủ trong hoạt động kiểm tra về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Trong đó, một số mặt hàng thường xuyên thay đổi phương thức kiểm tra đã gây mất nhiều thời gian, phát sinh chi phí cũng như làm tăng giá thành sản phẩm của DN, ảnh hưởng đến công tác cải cách môi trường kinh doanh, quản lý chuyên ngành.

Điều 34 Luật Chất Lượng sản phẩm, hàng hóa cũng quy định, hàng NK thuộc nhóm 2 phải được công bố hợp quy, chứng nhận hợp quy theo quy chuẩn kỹ thuật tương ứng liên quan đến quá trình sản xuất, sản phẩm cuối cùng bởi tổ chức chứng nhận được chỉ định hoặc được thừa nhận theo quy định. Nếu hàng nhập thuộc nhóm 2 không đáp ứng quy định khi NK phải được tổ chức giám định được chỉ định hoặc được thừa nhận theo quy định giám định tại cửa khẩu xuất hoặc nhập...

Còn tại khoản 3 Điều 1 Nghị định 74/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 132/2008/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định rõ về việc kiểm tra chất lượng hàng hóa nhóm 2 thông qua việc xem xét hoạt động công bố hợp quy của người NK. Theo đó, việc công bố hợp quy được quy định chi tiết tại các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng theo các biện pháp như: Kết quả tự đánh giá sự phù hợp của tổ chức, cá nhân; Kết quả chứng nhận, giám định của tổ chức chứng nhận, tổ chức giám định đã đăng ký hoặc được thừa nhận theo quy định; Kết quả chứng nhận, giám định của tổ chức chứng nhận, tổ chức giám định được chỉ định theo quy định.

Hải quan Lạng Sơn cho rằng, hiện nay việc chỉ định hoặc thừa nhận các tổ chức chứng nhận, giám định này còn có bộ, ngành chưa thống nhất thực hiện, gây khó khăn cho việc NK hàng hóa thuộc danh mục nhóm 2 theo quản lý chuyên ngành.

Hải quan Lạng Sơn đưa ra dẫn chứng cụ thể đối với Bộ Xây dựng, từ khi Thông tư 10/2017/TT-BXD ngày 29/9/2017 về quy chuẩn quốc gia về sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng, hướng dẫn chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy có hiệu lực đến khi ban hành Thông tư 19/2019/TT-BXD về ban hành quy chuẩn quốc gia về sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng vẫn chưa thống nhất về việc kiểm tra chất lượng hàng hóa sản phẩm vật liệu xây dựng NK. Đồng thời, đến nay cũng chưa có tổ chức chứng nhận hợp quy, tổ chức thử nghiệm nào được Bộ Xây dựng thừa nhận.

Hải quan Lạng Sơn nhấn mạnh, hiện việc kiểm tra nhà nước về chất lượng và tiếp nhận công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng NK đang được giao cho Sở Xây dựng nơi DN đăng ký kinh doanh thực hiện. Như vậy, việc thực hiện quy định tại Điều 34 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là chưa đảm bảo tính khả thi.

Cần bổ sung, sửa đổi, quy định rõ

Đứng trước yêu cầu hội nhập, giao lưu thương mại quốc tế ngày càng trở nên phát triển, để công tác quản lý, hướng dẫn các tổ chức, DN, người khai hải quan thực hiện chính sách kiểm tra chuyên ngành (KTCN) đạt hiệu quả cao, theo Cục Hải quan Lạng Sơn, các cơ quan chuyên môn cần đề xuất Quốc hội bổ sung, sửa đổi và quy định rõ chính sách tại Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.

Theo đó, cần có đánh giá lại kết quả kiểm tra chất lượng đối với hàng hóa NK thuộc danh mục hàng hóa nhóm 2 của các bộ, ngành trong thời gian qua để đề nghị các bộ, ngành xem xét rút gọn, đưa ra khỏi Danh mục những mặt hàng không phát hiện hoặc rủi ro ít vi phạm về chất lượng.

Trong đó, các văn bản Luật và văn bản dưới Luật cần quy định rõ việc áp dụng thông lệ quốc tế trong KTCN với những nội dung như: công nhận lẫn nhau; chủ động thừa nhận chứng nhận chất lượng của nước ngoài đối với hàng hóa NK từ các nước phát triển, thương hiệu nổi tiếng như: EU, Mỹ, Anh, Nhật, Hàn Quốc...

Ngoài ra, quy định rõ đối với cơ quan quản lý nhà nước chỉ thực hiện quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát; việc kiểm tra, kiểm định, giám định chuyển cho các tổ chức đánh giá sự phù hợp có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật thực hiện; kết quả kiểm tra của tổ chức đánh giá sự phù hợp là kết quả KTCN, được sử dụng để làm thủ tục thông quan hàng hóa.

Hải quan Lạng Sơn đề nghị khi sửa đổi, bổ sung 2 Luật trên theo nguyên tắc chỉ kiểm tra trước thông quan đối với hàng hóa có khả năng gây mất an toàn cao, gây lây lan dịch bệnh, gây nguy hại cho sức khỏe, tính mạng con người, gây ô nhiễm môi trường, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, nguy hại cho kinh tế, an ninh quốc gia. Thực hiện nguyên tắc quản lý rủi ro, phân loại tổ chức, DN dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật, phân sản phẩm, hàng hóa, nhóm mặt hàng có mức độ rủi ro cao và thấp... để áp dụng mức độ, phương pháp kiểm tra phù hợp...

Theo đại diện Cục Hải quan Lạng Sơn, hướng tới việc xây dựng Hải quan số, mô hình Hải quan thông minh thì việc quy định về mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa là đặc biệt cần thiết và cần phải thực hiện để đảm bảo đồng bộ với xu hướng phải triển mới. Từ đó, giảm đầu mối tiếp xúc giữa DN và Hải quan, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tình hình dịch bệnh vẫn tiếp tục có chiều hướng tăng.

Truy xuất nguồn gốc hàng hóa cũng góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. Trong đó, đối với hàng XK, truy xuất giống như hàng rào kỹ thuật, nếu không đáp ứng được yêu cầu về truy xuất nguồn gốc thì sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh. Khi áp dụng truy xuất nguồn gốc vào hàng hóa XK, tức là đã tiến thêm một bước trong việc hội nhập sâu vào chuỗi giá trị chung. Còn đối với hàng NK, thông qua việc truy xuất có thể kiểm soát chất lượng của các mặt hàng NK tốt hơn, tạo được niềm tin cho người tiêu dùng và sự cạnh tranh bình đẳng giữa hàng NK và hàng sản xuất trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của DN.

Nụ Bùi