Quanh việc DN Minh Giang kiện Hải quan Đà Nẵng: Bài 1: Lật lại quá trình xử lý vụ việc

10:26 | 25/05/2019

(HQ Online) - Xoay quanh những thông tin phản ánh về việc DN tư nhân Minh Giang kiện Hải quan Đà Nẵng trong việc phân loại xích nâng tải và các phụ kiện xích, gồm móc liên kết với xích, móc thu ngắn xích, mắt xích nối, vòng xích chủ, để giúp bạn đọc có cái nhìn toàn cục, Báo Hải quan lật lại quá trình diễn biến vụ kiện này.

quanh viec dn minh giang kien hai quan da nang bai 1 lat lai qua trinh xu ly vu viec Tổng cục Hải quan phản hồi về một văn bản bị nghi ngờ là giả
quanh viec dn minh giang kien hai quan da nang bai 1 lat lai qua trinh xu ly vu viec

Vì sao DN bị truy thu thuế?

DN tư nhân Minh Giang có đăng ký tờ khai nhập khẩu số 10139346690/A11 ngày 8/5/2017 tại Chi cục HQCK Cảng Đà Nẵng, khai báo đối với các mặt hàng (từ mục 01 đến 42 tờ khai) như sau:

Mục 01 đến 07: Xích nâng tải nhiều kích cỡ; khai báo mã số 7315.82.00; Mục 08 đến 42: Móc cẩu dùng cho xích, mắt nối xích, móc thu ngắn xích nhiều kích cỡ, vòng xích chủ; khai báo mã số 7315.82.00.

Theo nghiệp vụ quản lý rủi ro của cơ quan Hải quan, tờ khai được phân luồng Xanh.

Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra thông tin nộp thuế và các thông tin khác của DN, công chức Hải quan phát hiện việc khai báo các mặt hàng từ mục 08 đến 42 tờ khai chưa phù hợp với hướng dẫn tại công văn số 3933/TCHQ-TXNK ngày 11/8/2011 của Tổng cục Hải quan.

Theo đó, các mặt hàng Móc cẩu và móc liên kết với xích, mắt cẩu liên kết với xích bằng sắt, do chính DN Minh Giang nhập khẩu trước đó, đã được hướng dẫn phù hợp phân loại vào mã số 7326.90.90.90.

Điều quan trọng khiến Hải quan Đà Nẵng nghi ngờ là chính DN này khi nhập khẩu mặt hàng móc cẩu theo tờ khai số 10039277022/A11/03EE ngày 8/5/2015 tại Chi cục Hải quan cảng Đình Vũ- Hải Phòng đã khai báo theo mã số 7326.90.99.

Theo khai báo của DN cũng như kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa, thì các mặt hàng trên không được gắn với nhau, chúng là những sản phẩm độc lập, riêng biệt. Do đó, Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng đã phân loại các mặt hàng như sau:

Từ mục 01 đến 07 TK: Xích bằng sắt thép dạng cuộn, mới 100%, gồm 7 loại, được đóng trong các thùng bằng sắt, xích có độ dài 100m và 200m (không có đoạn ngắn hơn), chưa được gắn với các bộ phận, phụ tùng, thiết bị khác, thuộc mã số 7315.90.90 (đúng như mã số khai báo của DN).

Từ mục 08 đến 42 TK: Mặt hàng móc cẩu, móc thu ngắn xích, vòng xích chủ, mắt nối bằng sắt thép (nhiều kích cỡ) mới 100%, chưa được gắn với các bộ phận, thiết bị khác, được đóng vào các thùng gỗ, phân loại thuộc mã số 7326.90.99 (khác với mã số khai báo của DN).

Tuy nhiên, DN Minh Giang không đồng ý với việc phân loại hàng hóa của Chi cục và yêu cầu phải áp mã số theo C/O do phía đối tác cung cấp.

Để làm rõ hơn việc phân loại mặt hàng này, Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng đã báo cáo Cục Hải quan Đà Nẵng và đề nghị Chi cục Kiểm định hải quan 4 hỗ trợ việc phân loại.

Sau khi nhận được báo cáo, Cục Hải quan Đà Nẵng đã có công văn số 880/HQĐNg-TXNK trả lời về việc áp mã số, theo đó thống nhất với ý kiến phân loại, áp mã của Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng.

Và Chi cục Kiểm định hải quan 4 có công văn về việc hỗ trợ phân tích, phân loại hàng hóa, theo đó: Mặt hàng Xích nâng tải có số thứ tự dòng hàng từ số 01 đến số 07 của tờ khai 101393466900/A11 ngày 8/5/2017 có mã số phân loại theo Biểu thuế XNK là 7315.82.00; Các mặt hàng Móc cẩu, Mắt nối xích, Vòng xích chủ, Móc thu ngắn xích có số thứ tự dòng hàng từ số 08 đến số 42 của tờ khai có mã số phân loại theo Biểu thuế XNK là 7326.90.99.

Ngày 28/7/2017, Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng có công văn số 1096/HQCĐN gửi DN Minh Giang về việc phân loại mã số hàng hóa đối với các mặt hàng Móc cẩu, Mắt nối xích, Vòng xích chủ, Móc thu ngắn xích có số thứ tự dòng hàng từ số 08 đến số 42 tờ khai, thuộc mã số 7326.90.99 để DN biết và thực hiện khai bổ sung theo đúng quy định.

Tuy nhiên, quá thời hạn 5 ngày theo quy định nhưng DN không khai bổ sung, Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng đã ra Quyết định ấn định thuế số 59677/QĐ-HQCĐN ngày 9/8/2017 với số thuế ấn định tăng là 35.733.888 đồng do có sự chênh lệch thuế suất giữa mã số khai báo của DN 7315.90.90 (thuế suất 3%) và mã số cơ quan Hải quan xác định 7326.90.99 (thuế suất 10%).

Ngày 11/10/2017, DN đã nộp số tiền thuế ấn định và ngày 16/11/2017 DN đã nộp số tiền chậm nộp là 675.370 đồng theo thông báo của Chi cục.

Như vậy, việc xác định mã số đối với các mặt hàng từ số 08 đến số 42 của tờ khai thuộc mã số 7326.90.99 là phù hợp với các quy định về phân loại hàng hóa đã nêu trên đồng thời việc ra Quyết định ấn định thuế của Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng là đúng quy định.

Phiên tòa sơ thẩm: bác đơn khởi kiện

Do không đồng ý với Quyết định ấn định thuế của Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng, DN Minh Giang đã khởi kiện Chi cục trưởng Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng.

Ngày 15/3/2018 Chi cục đã tham gia buổi “Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại” theo Thông báo số 02/TB-TA ngày 5/3/2018 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, TP Nẵng đối với vụ khởi kiện của DN tư nhân Minh Giang.

Tại buổi họp các bên đã đưa ra các ý kiến, quan điểm của mình.

Về phía DN, các ý kiến đưa ra đều như đơn khởi kiện đã nêu, không bổ sung thêm nội dung gì. Đó là yêu cầu Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng hủy Quyết định ấn định thuế số 59677/QĐ-HQCĐN ngày 9/8/2017, áp lại mã số HS theo như HS tại C/O và bồi thường thiệt hại (ước tính 597.370.528 đồng).

Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng không đồng ý hủy Quyết định ấn định thuế số 59677/QĐ-HQCĐN ngày 9/8/2017 do cơ quan Hải quan đã áp dụng đúng và đầy đủ trên cơ sở các quy định, quy trình của pháp luật, của ngành Hải quan quy định. Đồng thời đã giải thích và chỉ ra những điểm chưa đúng cũng như các mâu thuẫn trong chứng cứ mà DN đã cung cấp cho Tòa. Công chức Hải quan cũng chỉ ra dấu hiệu DN tư nhân Minh Giang làm giả hồ sơ, giấy tờ liên quan đến nội dung bồi thường thiệt hại.

Sau khi tranh luận, hai bên đã đồng ý ký Biên bản họp đối thoại với nội dung chính như sau:

Bên khởi kiện, ông Nguyễn Huy Trường Giang – Giám đốc DN tư nhân Minh Giang đồng ý rút yêu cầu bồi thường thiệt hại theo đơn khởi kiện, kiến nghị Tòa án có văn bản gửi Tổng cục Hải quan, có Công hàm gửi cơ quan Hải quan Đức để xác định rõ mã HS trên C/O số L17599595 của các sản phẩm trong hợp đồng số MG-THIELE 01-2016 ngày 18/11/2016 có phù hợp với công dụng, tính năng của hải quan quốc tế hay không; tạm dừng việc giải quyết vụ án trong khi chờ ý kiến của Tổng cục Hải quan.

Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng đồng ý với việc rút yêu cầu bồi thường của DN tư nhân Minh Giang và cùng thống nhất tạm dừng việc giải quyết vụ án.

Chính vì kiến nghị của DN mà ngày 7/5/2018 TAND quận Sơn Trà có công văn số 97/CV-TA gửi Tổng cục Hải quan đề nghị xác định mã hàng hóa của các mặt hàng thuộc tờ khai. Và ngày 14/8/2018 Tổng cục Hải quan có văn bản số 4764/TCHQ-TXNK trả lời TAND quận Sơn Trà. Theo đó, Xích nâng tải bằng sắt, được ghép nối bằng mối hàn, chi tiết từ mục 01 đến 07 tờ khai, phù hợp phân loại thuộc mã số nhóm 73.15 “Xích và các bộ phận của xích, bằng sắt hoặc thép”, phân nhóm “- Xích khác”, mã số 7315.82.00 “- - Loại khác, ghép nối bằng mối hàn”. Các mặt hàng móc cẩu, mắt nối xích, vòng xích chủ và móc thu ngắn xích bằng sắt hoặc thép, được chi tiết từ mục 08 đến 42 tờ khai, phù hợp phân loại vào Nhóm 73.26 “Các sản phẩm khác bằng sắt hoặc thép”, phân nhóm 7326.90 “- Loại khác”, phân nhóm “- - Loại khác”, mã số 7326.90.99 “- - - Loại khác”.

Ngày 14/9/2018, Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã ban hành Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2018/HC-ST về việc khiếu kiện quyết định hành chính với kết quả như sau: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huy Trường Giang - chủ DN tư nhân Minh Giang nay là Công ty TNHH Thương mại xuất nhập khẩu quốc tế Minh Giang về việc hủy Quyết định số 59677/QĐ-HQCĐN ngày 9/8/2017 về việc ấn định thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Chi cục trưởng Chi cục HQCK Cảng Đà Nẵng

Tòa cũng kiến nghị Chi cục trưởng Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng sửa chữa Quyết định số 59677/QĐ-HQCĐN ngày 9/8/2017 về việc ấn định thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo đúng biểu mẫu số 09 ban hành kèm theo Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Cụ thể về thể thức văn bản: Quyết định Ấn định thuế số 59677/QĐ-HQCĐN ngày 9/8/2017 của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Đà Nẵng ban hành không đúng về thể thức văn bản, cụ thể thẩm quyền ban hành là Chi cục trưởng Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng nhưng đã ghi là Cục trưởng Cục Hải quan TP Đà Nẵng.

Ngày 26/9/2018 Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Đà Nẵng ban hành Quyết định số 2018/QĐ-HQCĐN sửa đổi Quyết định Ấn định thuế số 59677/QĐ-HQCĐN ngày 9/8/2017.

Như vậy, có thể thấy, việc TAND quận Sơn Trà bác đơn khởi kiện của DN là phù hợp với hướng dẫn phân loại như đã nêu trên.

Xét xử phúc thẩm: Tiếp tục bác đơn kiện

Không đồng ý quyết định của Tòa sơ thẩm, Công ty TNHH Thương mại xuất nhập khẩu quốc tế Minh Giang đã có Đơn kháng cáo đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2018/HC-ST của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng.

Ngày 18/10/2018, Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng đã ban hành Thông báo số 02/2018/TBPT-HC về việc thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm.

Ngày 28/12/2018 Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng đã tạm đình chỉ xét xử để trưng cầu giám định.

Ngày 30/11/2018, Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng có công văn số 55/CV-TA gửi Bộ Tài chính đề nghị xác định mã hàng hóa của các mặt hàng thuộc mục 08 đến 42 tờ khai.

Ngày 9/4/2019 Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng có công văn số 32/2019/TB-TA mở lại phiên tòa vào lúc 8 giờ ngày 3/5/2019.

Ngày 3/5/2019, Bộ Tài chính có văn bản số 5048/BTC-TCHQ trả lời TAND TP Đà Nẵng. Theo đó, các mặt hàng móc cẩu, mắt nối xích, vòng xích chủ và móc thu ngắn xích bằng sắt hoặc thép, được chi tiết từ mục 08 đến 42 tờ khai là các phụ kiện của xích, phù hợp phân loại thuộc nhóm 73.26“Các sản phẩm khác bằng sắt hoặc thép”, phân nhóm 7326.90 “- Loại khác”, phân nhóm “- - Loại khác”, mã số 7326.90.99 “- - - Loại khác”.

Tại phiên tòa ngày 3/5/2019, sau một thời gian xét xử Tòa nhận thấy vụ việc có thể hòa giải, đối thoại giữa các bên nên đã tạm ngưng phiên tòa để các bên đối thoại và sẽ mở lại phiên tòa vào ngày 14/5/2019.

Tại buổi đối thoại, DN yêu cầu Hải quan hủy Quyết định Ấn định thuế số 59677/QĐ-HQCĐN ngày 9/8/2017 và chấp nhận mã số đã khai báo của DN là đúng (nhóm 73.15), DN sẽ rút đơn khởi kiện và cũng không yêu cầu hoàn thuế.

Tuy nhiên, Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng không chấp nhận hủy Quyết định Ấn định thuế số 59677/QĐ-HQCĐN ngày 9/8/2017 (không chấp nhận mã số DN đã khai báo), cơ quan Hải quan sẽ hỗ trợ DN đối với các lô hàng sau như: thực hiện việc phân loại trước (thẩm quyền của Tổng cục Hải quan), trường hợp DN nhập khẩu đồng bộ thì sẽ hướng dẫn DN khai báo phù hợp.

Vì vậy, ngày 14/5/2019 phiên tòa phúc thẩm được mở lại.

Ngày 15/5/2019, Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng đã ban hành Bản án hành chính phúc thẩm số 08/2019/HC-PT về việc yêu cầu hủy quyết định hành chính với kết quả như sau:

Bác yêu cầu khởi kiện của chủ DN tư nhân Minh Giang về việc hủy Quyết định số 59677/QĐ-HQCĐN ngày 9/8/2017 v/v ấn định thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Chi cục trưởng Chi cục HQCK cảng Đà Nẵng.

(Đón đọc bài 2: Hải quan phân loại dựa trên căn cứ nào?)

Thu Trang