Nhiều quy định về trị giá hải quan được sửa đổi, bổ sung

13:06 | 12/09/2019

(HQ Online) - Thông tư 60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019 đã được Bộ Tài chính ban hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa XK, NK. Theo đó, từ ngày 15/10/2019 nhiều quy định về trị giá hải quan sẽ được sửa đổi, bổ sung.

nhieu quy dinh ve tri gia hai quan duoc sua doi bo sung 111420 Sửa đổi, bổ sung quy định về xác định trị giá hải quan
nhieu quy dinh ve tri gia hai quan duoc sua doi bo sung 111420 Hàng được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt vẫn phải tham vấn trị giá hải quan
nhieu quy dinh ve tri gia hai quan duoc sua doi bo sung 111420 Cách tính trị giá hải quan đối với hàng NK vận chuyển bằng đường sắt
nhieu quy dinh ve tri gia hai quan duoc sua doi bo sung 111420 Bộ Tài chính họp trực tuyến bàn về dự thảo thông tư trị giá hải quan
nhieu quy dinh ve tri gia hai quan duoc sua doi bo sung 111420
Công chức Chi cục Hải quan cảng Cái Lân, Cục Hải quan Quảng Ninh tham vấn trị giá hải quan cho doanh nghiệp. Ảnh: T.Trang.

Quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người khai và cơ quan Hải quan

Tính trị giá hải quan với trường hợp hàng hóa XNK đặc thù

Tại Thông tư 60/2019/TT-BTC đã bổ sung việc xác định trị giá đối với một số trường hợp hàng hóa XNK đặc thù như: Hàng hóa thay đổi mục đích sử dụng để bán thanh lý, đã hoặc chưa có thỏa thuận mua bán, giá cả mua bán thanh lý; hàng hóa thay đổi mục đích sử dụng để tiêu hủy; hóa thay đổi vào mục đích sử dụng không được miễn thuế tại DN, hàng hóa vẫn thuộc quyền sở hữu của DN NK; hàng quà biếu, quà tặng; hàng không thanh toán (free of charge).

Tại Khoản 2, 3 Điều 3 Thông tư 39/2015/TT-BTC quy định về trách nhiệm của cơ quan Hải quan trong việc kiểm tra, xác định trị giá, song chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan Hải quan trong việc yêu cầu người khai hải quan xuất trình các chứng từ tài liệu liên quan đến xác định trị giá hải quan. Cùng với đó chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan Hải quan là phải giải thích rõ về căn cứ, cơ sở xác định lại trị giá hải quan khi người khai hải quan có văn bản yêu cầu (trong khi tại quyền của người khai hải quan thì có quy định việc này). Do sự thiếu cân đối về quyền và trách nhiệm này nên nhiều DN đã rất bức xúc, khiếu nại, khiếu kiện về quyết định xác định giá của cơ quan Hải quan.

Vì vậy, Thông tư 60/2019/TT-BTC đã bổ sung quy định người khai hải quan tự kê khai, tự xác định trị giá hải quan theo các nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan theo các quy định của pháp luật về hải quan; nộp, xuất trình chứng từ, theo yêu cầu của cơ quan Hải quan và theo quy định tại Thông tư quy định về thủ tục hải quan; Tham vấn để trao đổi, làm rõ nghi vấn của cơ quan Hải quan liên quan đến trị giá hải quan do người khai hải quan tự xác định. Đồng thời được quyền yêu cầu cơ quan Hải quan thông báo bằng văn bản về trị giá hải quan, cơ sở, phương pháp được sử dụng trong trường hợp cơ quan Hải quan xác định lại trị giá hải quan.

Với cơ quan Hải quan, Thông tư 60 cũng quy định: Khi kiểm tra việc khai báo trị giá hải quan, cơ quan Hải quan có quyền yêu cầu người khai nộp, xuất trình các chứng từ, tài liệu có liên quan. Đồng thời quy định rõ các trường hợp cơ quan Hải quan xác định trị giá hải quan, nguyên tắc, trình tự các phương pháp trong trường hợp cơ quan Hải quan được xác định trị giá. Đặc biệt, yêu cầu cơ quan Hải quan thực hiện kiểm tra, xử lý khoản giảm giá trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của DN.

Xác định trị giá hải quan với hàng nhập khẩu

Hiện các phương pháp xác định trị giá hải quan của hàng hóa XK thực hiện theo khoản 15 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018. Theo phân tích của ban soạn thảo, với quy định hiện hành thì việc xác định trị giá hải quan của hàng hóa XK được thực hiện theo các phương pháp, quy định từ khoản 2 đến khoản 6 Điều 25a nêu tại khoản 15 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC. Theo đó, để xác định trị giá hải quan của hàng hóa XK thì phải xác định giá bán hàng hóa đến cửa khẩu xuất.

Việc xác định giá bán của hàng XK tính đến cửa khẩu xuất được thực hiện trên cơ sở các phương pháp gồm: Phương pháp giá bán hàng hóa đến cửa khẩu xuất, phương pháp giá bán hàng hóa XK giống hệt hoặc tương tự đến cửa khẩu xuất, phương pháp giá bán hàng hóa giống hệt hoặc tương tự hàng XK tại thị trường nội địa Việt Nam và phương pháp giá bán hàng hóa XK do cơ quan Hải quan thu thập, tổng hợp.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện đã phát sinh vướng mắc, bất cập đối với phương pháp xác định trị giá hải quan theo giá bán hàng hóa đến cửa khẩu xuất, do chưa có hướng dẫn chi tiết đối với từng tình huống giao hàng tại cửa khẩu, trước khi đến cửa khẩu, sau khi đã XK, dẫn đến người xác định trị giá gặp lúng túng, khó phân biệt chi phí nào thuộc vào trị giá hải quan, chi phí nào không thuộc trị giá hải quan, chi phí nào cần phải cộng hoặc trừ khỏi giá bán ghi trên hợp đồng…

Tại Thông tư 60/2019/TT-BTC đã quy định chi tiết 3 nguyên tắc và 6 phương pháp xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa XK. Cụ thể, Thông tư 60 đã chi tiết phương pháp xác định trị giá theo giá bán hàng hóa đến cửa khẩu xuất theo từng điều kiện giao hàng XK khác nhau gồm giao hàng tại cửa khẩu xuất, giao hàng trong nội địa Việt Nam và giao hàng tại địa điểm giao hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Đồng thời, bổ sung nội dung mở rộng khái niệm hàng hóa giống hệt, tương tự tại phương pháp giá bán của hàng hóa XK do cơ quan Hải quan thu thập, tổng hợp, phân loại như quy định đối với hàng NK để đảm bảo tính thống nhất.

Xác định trị giá hải quan hàng nhập khẩu

Với phương pháp xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa NK theo phương pháp trị giá giao dịch, tại Thông tư 60/2019/TT-BTC bổ sung trị giá hải quan theo trị giá giao dịch đã bổ sung vào trước khoản 1 hiện hành; bổ sung hướng dẫn về điều kiện áp dụng phương pháp 1, trong đó nêu rõ chỉ được bác bỏ phương pháp nếu không đáp ứng ít nhất 1 trong 4 điều kiện. Bên cạnh đó, Thông tư 60/2019/TT-BTC cũng quy định rõ hàng hóa là máy móc, thiết bị có chứa phần mềm trường hợp nào cộng, trường hợp nào không cộng.

Về mối quan hệ đặc biệt trong cách tính trị giá hải quan, Thông tư 60/2019/TT-BTC đã quy định rõ thông tin liên quan là thông tin nào, cơ sở để chấp nhận hoặc không chấp nhận giải trình của DN để đảm bảo việc đưa ra kết luận mối quan hệ đặc biệt có hay không ảnh hưởng đến trị giá hải quan.

Quy định về các khoản điều chỉnh cộng và tiền bản quyền, chi phí giấy phép, Thông tư 60/2019/TT-BTC cũng quy định rõ khái niệm về các khoản điều chỉnh cộng và sửa đổi, bổ sung Điều 14 Thông tư 39 theo hướng lược bớt những nội dung không cần thiết, chi tiết hóa phần hướng dẫn cách thức xác định trị giá của khoản điều chỉnh trong từng trường hợp cụ thể.

Với các khoản điều chỉnh trừ, Thông tư 60/2019/TT-BTC cũng bổ sung theo hướng quy định rõ khái niệm về các khoản điều chỉnh trừ, sửa đổi quy định về khoản giảm giá, chi phí liên quan đến xúc tiến thương mại, chi phí về dịch vụ mở Thư tín dụng, phí dịch vụ chuyển tiền.

Với phương pháp xác định trị giá hải quan đối với phương pháp xác định trị giá giao dịch của hàng hóa NK, Thông tư 60/2019/TT-BTC bổ sung hướng dẫn chi tiết cách hiểu và quy đổi trị giá giao dịch theo cấp độ thương mại và số lượng, quãng đường và phương thức vận tải, bảo hiểm.

Xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa NK theo phương pháp suy luận, tại Thông tư 60/2019/TT-BTC quy định chi tiết trường hợp không được sử dụng để xác định trị giá hải quan, trong đó nhấn mạnh việc không được sử dụng tài liệu, mức giá không có thật, chưa từng xảy ra giao dịch thật để làm cơ sở xác định trị giá hải quan.

Tiêu chí xây dựng Danh sách doanh nghiệp có rủi ro về trị giá hải quan

Thông tư 60 đã bổ sung quy định về Tiêu chí xây dựng Danh sách doanh nghiệp có rủi ro về trị giá hải quan, cụ thể:

Thứ nhất, tại thời điểm đánh giá, doanh nghiệp bị cơ quan Hải quan đánh giá là không tuân thủ pháp luật.

Thứ hai, tại thời điểm đánh giá, doanh nghiệp bị cơ quan Hải quan phân loại là doanh nghiệp rủi ro cao hoặc doanh nghiệp rủi ro rất cao hoặc doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa dưới 365 ngày.

Thứ ba, trong thời gian 730 ngày (2 năm) trở về trước tính đến ngày đánh giá, doanh nghiệp bị cơ quan Hải quan xử lý vi phạm về hành vi khai sai trị giá hải quan dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu thuế, với mức độ xử phạt và số tiền xử phạt theo quy định của Bộ Tài chính hoặc bị cơ quan quản lý Nhà nước xử lý vi phạm về hành vi gian lận, trốn thuế.

Thu Trang