VCCI: Cần rõ ràng hơn trong một số quy định chi tiết về quản lý thuế

15:28 | 28/02/2020

(HQ Online) - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có công văn trả lời góp ý Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế.    

vcci can ro rang hon trong mot so quy dinh chi tiet ve quan ly thue Cách khai thuế với cá nhân, tổ chức nước ngoài
vcci can ro rang hon trong mot so quy dinh chi tiet ve quan ly thue Nộp hồ sơ khai tiền sử dụng đất như thế nào?
vcci can ro rang hon trong mot so quy dinh chi tiet ve quan ly thue Khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp như thế nào?
vcci can ro rang hon trong mot so quy dinh chi tiet ve quan ly thue

Bộ Tài chính đang hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế. Ảnh TL.

Cần quy định cụ thể hơn 

Theo VCCI, tại quy định về quản lý thuế đối với người nộp thuế trong thời gian tạm ngừng hoạt động, kinh doanh (Điều 4), riêng với nội dung về vấn đề trao đổi thông tin, theo VCCI, tại điểm a khoản 1 Điều 4 Dự thảo quy định "khi đăng ký tạm ngừng hoạt động, kinh doanh với cơ quan đăng ký kinh doanh thì cơ quan đăng ký kinh doanh gửi thông tin giấy xác nhận về việc người nộp thuế đã đăng ký tạm ngừng kinh doanh cho cơ quan thuế, tức là người nộp thuế không phải thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan thuế". Trong khi đó, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 Dự thảo thì trường hợp người nộp thuế được cơ quan có thẩm quyền khác của Nhà nước chấp thuận tạm ngừng thì người nộp thuế thông báo với cơ quan thuế.

Như vậy, cùng hai trường hợp có tính chất là tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng có trường hợp thì giữa các cơ quan quản lý nhà nước thông tin cho nhau, người nộp thuế không phải thực hiện thủ tục, có trường hợp thì người nộp thuế phải thực hiện thủ tục thông báo. Do đó, VCCI góp ý nên sửa đổi quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 theo hướng, trong trường hợp người nộp thuế được cơ quan có thẩm quyền khác của Nhà nước chấp thuận tạm ngừng hoạt động thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận gửi thông báo cho cơ quan thuế.

Ngoài ra, đối với trường hợp cơ quan thuế chấp thuận tạm ngừng hoạt động, kinh doanh, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 Dự thảo, ngoài hai trường hợp quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 4 thì người nộp thuế “thực hiện thông báo tạm ngừng hoạt động, kinh doanh đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp” trước khi ngừng hoạt động, kinh doanh và “được cơ quan thuế có thông báo chấp nhận tạm ngừng hoạt động, kinh doanh ghi trên thông báo của cơ quan thuế”.

Theo VCCI, quy định này chưa rõ về thủ tục để người nộp thuế có được chấp nhận tạm ngừng kinh doanh, hoạt động của cơ quan thuế. Do vậy VCCI cho rằng để đảm bảo thuận lợi trong quá trình thực hiện, cần thiết phải quy định rõ hơn thủ tục này.

Về thời điểm hoạt động lại, Khoản 3 Điều 4 Dự thảo quy định “người nộp thuế tiếp tục hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn hoặc hết thời gian tạm ngừng hoạt động, kinh doanh phải thực hiện đầy đủ các quy định về thuế và nộp hồ sơ khai thuế, báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn theo quy định”.

Theo nhận định của VCCI, quy định này được hiểu thời hạn hết tạm ngừng hoạt động, kinh doanh là thời điểm doanh nghiệp bắt đầu hoạt động. Điều này dường như chưa tương thích với quy định về thời gian người nộp thuế tạm ngừng hoạt động, kinh doanh – được xác định tại thời điểm trên văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước.

Do vậy, để đảm bảo tính rõ ràng và thống nhất, nên quy định theo hướng thời điểm xác định người nộp thuế hoạt động trở lại sau thời gian tạm ngừng hoạt động, kinh doanh là thời điểm trên văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước.

Cần thống nhất quy định về lệ phí môn bài

Về hồ sơ khai thuế, VCCI cũng góp ý nên quy định rõ hơn về tiêu chí để cơ quan nhà nước quyết định chấp nhận hay không chấp nhận, trình tự của thủ tục này như thế nào (thời hạn cơ quan thuế đưa ra quyết định là bao lâu)… trong quá trình người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế bổ sung trong trường hợp khai bổ sung làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được khấu trừ, tăng số tiền thuế được miễn, giảm, được hoàn.

Riêng về vấn đề thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của các khoản thu về đất, lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ, Điểm a khoản 1 Điều 9 Dự thảo quy định thời hạn nộp hồ sơ khai lần đầu của lệ phí môn bài là “ngày cuối cùng của tháng bắt đầu hoạt động, kinh doanh; chậm nhất 30 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu chưa hoạt động kinh doanh”.

Trong khi đó, hiện tại, Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 139/2016/NĐ-CP về lệ phí môn bài đang được soạn thảo, trong đó có nhiều quy định sửa đổi, bổ sung về khai, nộp lệ phí môn bài.

Cụ thể, tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình mới ra hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc mới thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh trong năm đầu (từ ngày 1/1 đến 31/12) sẽ được miễn lệ phí môn bài; doanh nghiêp nhỏ và vừa chuyển từ hộ kinh doanh trong thời hạn 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu được miễn lệ phí môn bài.

Dự thảo này cũng quy định việc khai lệ phí môn bài, theo đó đối với tổ chức thực hiện khai lệ phí môn bài và nộp Tờ khai cho cơ quan quản lý trực tiếp trước ngày 10/1 năm sau; thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30/1 hàng năm.

Theo VCCI, đây là các quy định đạt được đồng thuận khá cao trong quá trình soạn thảo. Nếu Nghị định sửa đổi Nghị định 139/2016/NĐ-CP được ban hành với nội dung theo tinh thần ở trên thì Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế cần phải có điều chỉnh tương ứng đối với thời hạn nộp hồ sơ khai lệ phí môn bài để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Thùy Linh