Vai trò của Hải quan Việt Nam trong thực thi EVFTA

07:51 | 17/07/2020

(HQ Online) - Để hiểu rõ hơn vai trò của Hải quan Việt Nam trong thực thi Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (Hiệp định EVFTA), Báo Hải quan đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Anh Tài (ảnh)- Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Tổng cục Hải quan) về vấn đề này.    

Pháp luật tương thích gần như toàn bộ các cam kết trong EVFTA về hải quan
Cắt giảm thuế quan trong EVFTA được thực hiện như thế nào?
Tọa đàm “Chính sách thuế và thủ tục hải quan khi thực hiện EVFTA”: Đón nhận cơ hội bứt phá thành công

Ông có thể cho biết các điểm mấu chốt cần được Hải quan quan tâm trong Hiệp định EVFTA?

vai tro cua hai quan viet nam trong thuc thi evfta 130132
Ông Nguyễn Anh Tài - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Tổng cục Hải quan)

- Hiệp định EVFTA gồm 17 Chương, 8 Phụ lục, 2 Nghị định thư, 2 Biên bản ghi nhớ và 4 Tuyên bố chung. Trong đó 2 lĩnh vực được xem là điểm mấu chốt là thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ.

Vai trò thực thi của cơ quan Hải quan sẽ tập trung xoay quanh vấn đề thương mại hàng hoá, cụ thể gồm: thực thi Biểu thuế XK ưu đãi, biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt EVFTA theo các lộ trình và danh mục hàng hóa cam kết trong Hiệp định; kiểm tra xác minh xuất xứ hàng hoá XNK theo hiệp định để đảm bảo việc hưởng các ưu đãi về thuế quan theo đúng cam kết; đảm bảo các nguyên tắc về thủ tục hải quan, cam kết về tạo thuận lợi thương mại, thực thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tại biên giới và hợp tác với chủ sở hữu quyền, kiểm soát các giấy phép, chứng từ liên quan theo yêu cầu thông quan hàng hóa đối với các loại hàng hóa cần có phép XNK và kết quả kiểm tra chuyên ngành… trong hồ sơ hải quan để quyết định thông quan.

Trong thương mại hàng hóa, EVFTA quy định các cam kết cắt giảm thuế và lộ trình cắt giảm thuế. Về cơ bản, mức cắt giảm thuế NK theo EVFTA được chia thành các phần: Nhóm xóa bỏ thuế NK ngay; nhóm xóa bỏ thuế NK theo lộ trình; nhóm áp dụng hạn ngạch thuế quan và nhóm hàng hóa không cam kết.

Đối với hàng hóa XK của EU vào Việt Nam, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% dòng thuế (chiếm 64,5% kim ngạch XK của EU sang Việt Nam. Sau 7 năm là 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch XK của EU sang Việt Nam. Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8% kim ngạch NK). Đối với khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại, Việt Nam áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế NK dài hơn 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch theo cam kết của WTO hoặc không cam kết.

Việt Nam và EU cam kết không đánh thuế XK đối với hàng hóa XK. Lý do của việc cắt giảm thuế XK là nhiều nước trên thế giới coi việc đánh thuế XK như một hình thức trợ cấp gián tiếp gây ra cạnh tranh không lành mạnh giữa hàng hóa của các nước. Tuy nhiên, Việt Nam đã áp dụng quyền áp dụng thuế XK đối với 57 dòng thuế, trong đó có các sản phẩm quan trọng như dầu thô, than đá. Đối với các dòng thuế có thuế XK hiện hành đang cao, Việt Nam đồng ý đưa về mức trần thuế XK về 20% trong tối đa là 5 năm (riêng quặng măng-gan có mức trần 10%). Đối với các sản phẩm khác, lộ trình tối đa là 16 năm.

Các quy tắc về xuất xứ mà Việt Nam và EU thống nhất trong Hiệp định EVFTA có các nội dung cơ bản giống như các FTA mà Việt Nam ký kết trước đó. Bên cạnh cơ chế cấp Giấy chứng nhận xuất xứ truyền thống, hai bên thống nhất cho phép nhà XK được tự chứng nhận xuất xứ. Đây là cơ chế mà nhà XK tự khai xuất xứ của sản phẩm trong bộ tài liệu nộp cho cơ quan Hải quan thay vì đề nghị cấp giấy chứng nhận xuất xứ từ các cơ quan chức năng.

Các cam kết về SHTT của Hiệp định EVFTA gồm các cam kết về quyền tác giả và quyền liên quan, cam kết về quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, thông tin bí mật, bảo vệ quyền SHTT… Về cơ bản, các cam kết về SHTT của Việt Nam là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Một số điểm mà cơ quan Hải quan cần lưu ý gồm nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, về thực thi (các biện pháp kiểm soát tại biên giới đối với hàng XK nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT), về chỉ dẫn địa lý, cam kết về đối xử tối huệ quốc.

Hiệp định đặt ra các yêu cầu chung nhất nhằm đảm bảo một môi trường pháp lý hiệu quả, có thể dự đoán cho các chủ thể kinh tế, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ.

Theo ông những thủ tục hải quan, thuận lợi hóa thương mại được quy định trong Hiệp định EVFTA chú trọng vào những vấn đề gì?

- Trong Hiệp định EVFTA, chế định về hải quan và tạo thuận lợi thương mại được quy định tập trung trong Chương 4 của Hiệp định và Phụ lục 2 - Nghị định thư về tương trợ hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Về mặt nội dung, các cam kết trong EVFTA về hải quan có thể xếp vào 5 nhóm:

Nhóm 1, liên quan đến các cam kết về các thủ tục hải quan cụ thể như: Giải phóng hàng; hàng quá cảnh, chuyển khẩu; xác định trước; quản lý rủi ro; đại lý hải quan; phí, lệ phí; trị giá hải quan; kiểm tra hồ sơ hải quan trước khi hàng lên tàu.

Nhóm 2, các cam kết về tạo thuận lợi thương mại: Loại bỏ các thủ tục không cần thiết, phân biệt đối xử, làm chậm trễ thủ tục; đơn giản hóa các điều kiện, thủ tục hải quan; sử dụng các phương pháp hiện đại (quản lý rủi ro, KTSTQ); sử dụng hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử.

Nhóm 3, các cam kết về minh bạch trong thủ tục hải quan: Công khai các văn bản, quy định, thủ tục, thông tin hành chính; cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện các quyết định hành chính trong thủ tục hải quan.

Nhóm 4, hỗ trợ DN trong vấn đề hải quan: Điểm giải đáp-thông tin cho DN; tham vấn định kỳ với đại diện DN.

Nhóm 5, các cam kết về hợp tác hành chính giữa cơ quan Hải quan EU và cơ quan Hải quan Việt Nam: Cam kết về hợp tác thực thi Hiệp định EVFTA; cam kết về hỗ trợ hành chính giữa các cơ quan Hải quan.

Từ góc độ nội dung, có thể nói các cam kết về hải quan và tạo thuận lợi thương mại trong EVFTA gần như được thiết kế dựa trên và tương tự với các quy định của Hiệp định về Tạo thuận lợi thương mại của WTO (TFA).

Tất cả các cam kết liên quan các nghĩa vụ cụ thể đối với DN đều thuộc nội dung của Chương 4 về Hải quan và Tạo thuận lợi thương mại.

Bên cạnh đó, Nghị định thư số 2 của Hiệp định gồm các nội dung liên quan tới quyền và nghĩa vụ giữa các cơ quan Hải quan EU và Việt Nam với nhau, không trực tiếp ảnh hưởng hay làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể XNK giữa EU và Việt Nam cũng như không tác động trực tiếp tới các thủ tục, trình tự, điều kiện hải quan hay trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan Hải quan với các chủ thể XNK.

Toàn bộ các cam kết trong Nghị định thư 2 đều nằm trong chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, của cơ quan Hải quan của mỗi bên theo quy định của luật pháp quốc gia.

Để thực hiện có hiệu quả Hiệp định, đồng thời, tích cực hỗ trợ DN tận dụng ưu đãi từ EVFTA, ngành Hải quan đã và đang làm gì, thưa ông?

- Thứ nhất, về nội luật hóa các cam kết trong hiệp định, kết quả rà soát chi tiết cho thấy pháp luật Việt Nam đã tương thích với toàn bộ các cam kết trong EVFTA về hải quan và tạo thuận lợi thương mại. Đây là kết quả của quá trình xây dựng Luật Hải quan 2014 được diễn ra song song với tiến trình đàm phán các FTA thế hệ mới như EVFTA, CPTPP. Chương 4 về Hải quan và thuận lợi hóa thương mại của EVFTA là một trong những chương hoàn thành đàm phán sớm nhất, vào đầu năm 2014. Giai đoạn này cũng là giai đoạn đàm phán Hiệp định Thuận lợi hóa thương mại của WTO (TFA). Do đó, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan đã có chỉ đạo rà soát để nội luật hóa những cam kết trong các FTA vào Luật Hải quan 2014. Do đó không có gì ngạc nhiên khi pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này đã cơ bản tiếp thu các xu hướng, tiêu chuẩn về hải quan và tạo thuận lợi thương mại trên thế giới bao gồm TFA và cả các nguyên tắc lớn trong TPP và EVFTA. Lý do nữa là, liên quan tới các yêu cầu về minh bạch hóa, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có những nỗ lực lớn trong cải cách hành chính cũng như tăng cường tính minh bạch của hệ thống pháp luật và nhấn mạnh sự tham gia của người dân vào quá trình này. Kết quả là nhiều yêu cầu về minh bạch, công khai thông tin và tham vấn trong TFA đã được đáp ứng trong pháp luật Việt Nam. Luật Hải quan 2014 đã hoàn toàn đáp ứng các nghĩa vụ về hải quan và tạo thuận lợi thương mại trong EVFTA.

Thứ hai, Tổng cục Hải quan đã tham gia phối hợp tích cực với các đơn vị của Bộ Tài chính và Bộ Công Thương trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện EVFTA về biểu thuế EVFTA và xuất xứ hàng hóa. Đây cũng là quá trình nắm bắt trước các yêu cầu có liên quan đến vai trò thực thi của cơ quan Hải quan.

Thứ ba, Tổng cục Hải quan đã tiến hành tuyên truyền phổ biến EVFTA đối với những nội dung liên quan đến hải quan cho cộng đồng DN và các đối tác có liên quan.

Thứ tư, để chuẩn bị cho việc thực hiện Hiệp định sau khi chính thức có hiệu lực đối với các nội dung thuộc thẩm quyền của Tổng cục Hải quan, Lãnh đạo Tổng cục đã yêu cầu Vụ Hợp tác quốc tế chủ trì xây dựng Kế hoạch thực hiện Hiệp định EVFTA của Tổng cục Hải quan và lấy ý kiến các đơn vị thuộc Tổng cục để hoàn thiện trước khi trình Lãnh đạo Tổng cục phê duyệt, trình Bộ Tài chính và ký ban hành.

Theo đó, dự thảo Kế hoạch thực hiện gồm các nội dung của Chương 4, Nghị định thư 2, nội dung về xuất xứ liên quan tới cơ quan Hải quan về việc thực hiện quy tắc xuất xứ thuộc Chương 1 và Nghị định thư 1 “Quy định về hàng hóa có xuất xứ và phương thức hợp tác quản lý hành chính” và một số nội dung có liên quan đến hải quan tại Hiệp định gồm phòng vệ thương mại, thực thi quyền SHTT, các điều khoản chung về việc thực thi Hiệp định... Kế hoạch xác định và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng đơn vị của Tổng cục Hải quan. Đồng thời kế hoạch này cũng đảm bảo việc tổ chức triển khai Kế hoạch thực hiện tổng thể của Chính phủ và Kế hoạch thực hiện của Bộ Tài chính, bao gồm việc tham gia vào Cơ chế thực thi Hiệp định (cử đại diện tham gia Ủy ban Thương mại (do Bộ Công Thương chủ trì) và Ủy ban Hải quan Điều (17.2 các ủy ban chuyên trách) và các Ủy ban/Tổ công tác khác khi có đề nghị từ các bộ/ngành).

Xin cảm ơn ông!

Hồng Nụ (thực hiện)