Pháp luật tương thích gần như toàn bộ các cam kết trong EVFTA về hải quan

15:11 | 06/07/2020

(HQ Online) - Kết quả rà soát chi tiết cho thấy pháp luật Việt Nam đã tương thích với gần như toàn bộ các cam kết trong EVFTA về hải quan và tạo thuận lợi thương mại. 

Tận dụng lợi thế từ EVFTA: Doanh nghiệp cần thực hiện nghiêm vấn đề xuất xứ
Tọa đàm “Chính sách thuế và thủ tục hải quan khi thực hiện EVFTA”: Đón nhận cơ hội bứt phá thành công
Cơ chế hạn ngạch thuế quan trong EVFTA thực thi như thế nào?
0411 img 1183
Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Móng Cái (Cục Hải quan Quảng Ninh). Ảnh: Quang Hùng

Theo Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Tổng cục Hải quan) Nguyễn Anh Tài, các cam kết về hải quan và tạo thuận lợi thương mại trong EVFTA gần như được thiết kế dựa trên và tương tự với các quy định của Hiệp định về Tạo thuận lợi thương mại của WTO (TFA), những nguyên lý cơ bản của Công ước Kyoto sửa đổi và các khuyến nghị của Tổ chức Hải quan Thế giới. Tất cả các cam kết liên quan các nghĩa vụ cụ thể đối với doanh nghiệp đều thuộc nội dung của Chương 4 về Hải quan và Tạo thuận lợi thương mại.

Kết quả rà soát chi tiết cho thấy, pháp luật Việt Nam đã tương thích với gần như toàn bộ các cam kết trong EVFTA về hải quan và tạo thuận lợi thương mại.

Bởi, quá trình xây dựng Luật Hải quan năm 2014 gắn với quá trình đàm phán các FTA, bao gồm cả quá trình kết thúc đàm phán chương 4 tại EVFTA. Đây cũng là giai đoạn đàm phán và kết thúc đàm phán TFA. Các cam kết trong các FTA đã được rà soát và đưa vào Luật Hải quan 2014.

“Tổng cục Hải quan “đi trước”, vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này đã cơ bản tiếp thu các xu hướng, tiêu chuẩn về hải quan và tạo thuận lợi thương mại trên thế giới (bao gồm TFA và cả các nguyên tắc lớn trong TPP và EVFTA)” – ông Nguyễn Anh Tài cho biết.

Bên cạnh đó, liên quan tới các yêu cầu về minh bạch hóa, trong những năm qua, Việt Nam đã có những nỗ lực lớn trong cải cách hành chính cũng như tăng cường tính minh bạch của hệ thống pháp luật và nhấn mạnh sự tham gia của người dân vào quá trình này. Kết quả nhiều yêu cầu về minh bạch, công khai thông tin và tham vấn trong TFA đã được đáp ứng trong pháp luật Việt Nam.

Thực tế đó cho thấy, pháp luật Việt Nam đã hoàn toàn đáp ứng các nghĩa vụ của Chương 4 Hiệp định EVFTA về hải quan và tạo thuận lợi thương mại, bao gồm:

Điều 1, cam kết ghi nhận tầm quan trọng của vấn đề hải quan và tạo thuận lợi thương mại trong phát triển thương mại; cam kết ghi nhận các mục tiêu công cộng và không thỏa hiệp trọng đấu tranh chống gian lận, bảo vệ thương mại hợp pháp;

Điều 3, cam kết bảo đảm các quy định và thủ tục hải quan của mình dựa trên các tiêu chuẩn trong Công ước Kyoto, Công ước HS; Cam kết pháp luật hải quan loại bỏ các yêu cầu không cần thiết, phân biệt đối xử, được thực thi hiệu quả và các biện pháp xử lý tương xứng, không phân biệt đối xử, không làm chậm trễ việc giải phóng hàng; Cam kết đơn giản hóa các điều kiện và thủ tục khi có thể, nỗ lực hướng tới việc đơn giản hóa, tiêu chuẩn hóa các dữ liệu và giấy tờ yêu cầu;

Điều 4, cam kết pháp luật quy định thời gian giải phóng hàng không dài hơn mức cần thiết để bảo đảm các thủ tục hải quan, nỗ lực giảm thời gian giải phóng hàng. Cam kết quy định về việc khai và xử lý hồ sơ hải quan điện tử trước khi hàng đến để giải phóng hàng ngay khi đến.

Điều 5, cam kết đảm bảo chỉ yêu cầu một Tờ khai hải quan duy nhất cho hàng hóa. Cam kết thúc đẩy việc hình thành và sử dụng các hệ thống trao đổi thông tin điện tử giữa các cơ quan có thẩm quyền về hải quan và doanh nghiệp

Điều 6, cam kết đảm bảo tạo thuận lợi và kiểm soát hiệu quả hoạt động quá cảnh, chuyển khẩu.

Điều 7, cam kết áp dụng phương pháp quản lý rủi ro cho hàng quá cảnh, chuyển khẩu.

Điều 8, cam kết bảo đảm các quy định về hải quan được công khai, sẵn có. Cam kết chỉ định một hoặc một số điểm thông tin để giải đáp thắc mắc về hải quan cho các tổ chức, cá nhân

Điều 9, cam kết ban hành quyết định xác định trước bằng văn bản theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân nhập khẩu về phân loại hàng hóa và các vấn đề khác. Cam kết đăng tải công khai các kết quả xác định trước về phân loại hàng hóa (trừ các thông tin mật)

Điều 11, cam kết không bắt buộc sử dụng đại lý hải quan; Cam kết bảo đảm việc cấp phép đại lý hải quan minh bạch, tương xứng và không phân biệt đối xử

Điều 12, cam kết tuân thủ Hiệp định về xác định trị giá hải quan của WTO; Cam kết hợp tác để có quan điểm chung về vấn đề xác định trị giá hải quan

Điều 13, cam kết không yêu cầu các thủ tục kiểm tra hồ sơ hải quan trước khi xếp hàng như định nghĩa theo Hiệp định về kiểm tra trước khi xếp lên tàu. Cam kết không yêu cầu bất kỳ hoạt động kiểm tra nào tại điểm đến trước khi thông quan bởi các công ty tư nhân.

Điều 14, cam kết bảo đảm các thủ tục hiệu quả, nhanh chóng, không phân biệt đối xử, dễ tiếp cận, để khiếu nại, khiếu kiện các quyết định hành chính của cơ quan hải quan liên quan tới việc xuất, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa.

Điều 15, cam kết ghi nhận sự cần thiết phải có tham vấn giữa đại diện DN và cơ quan Hải quan về các quy định và thủ tục hải quan và cần phải thiết lập cơ chế tham vấn này; cam kết công khai các quy định, thủ tục về hải quan; các thông báo hành chính của cơ quan Hải quan về giờ giấc, thủ tục hải quan; cam kết đảm bảo khoảng cách hợp lý giữa thời điểm ban hành và thời điểm có hiệu lực của văn bản pháp luật về hải quan; cam kết bảo đảm các thủ tục hải quan ít hạn chế thương mại, đáp ứng nhu cầu DN, theo thực tiễn tốt.

N.Linh