Tìm vốn ngoại để "làm đầy" 150 tỷ USD đầu tư nguồn điện

09:07 | 03/12/2020

(HQ Online) - Để đảm bảo cung ứng điện, trong 10 năm tới, mỗi năm ngành điện cần đầu tư khoảng 13-15 tỷ USD. Trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư từ Nhà nước vào các dự án điện ngày càng khó khăn, khơi thông rào cản để thu hút vốn đầu tư tư nhân, đặc biệt là thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài được coi là giải pháp quan trọng, mấu chốt giúp lấp đầy nguồn vốn khổng lồ trong thời gian tới.

Nhiều khó khăn trong hút vốn đầu tư tư nhân vào ngành điện
“Khơi dòng” hút tư nhân đầu tư vào ngành điện
Bộ Công Thương sẽ làm gì để hút tư nhân đầu tư vào ngành điện?
Nhà đầu tư điện mặt trời: Nhiều giải pháp mới có thể gỡ khó cho điện mặt trời
Thấp thỏm đầu tư điện gió
Tìm vốn ngoại để
Trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư của Nhà nước vào các dự án điện ngày càng khó khăn, việc thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân có vai trò, ý nghĩa quan trọng. Ảnh: Nguyễn Thanh

Cần 130-150 tỷ USD

Để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu đề ra trong Nghị quyết 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tổng công suất của các nguồn điện đến năm 2030 đạt khoảng 125-130 GW, sản lượng điện đạt khoảng 550-600 tỷ kWh, ngành điện cần đầu tư với quy mô rất lớn.

"Cần đẩy nhanh lộ trình thực hiện thị trường điện cạnh tranh; có cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp giữa nhà sản xuất và khách hàng tiêu thụ; có cơ chế đấu thầu, đấu giá cung cấp năng lượng phù hợp, đặc biệt là minh bạch giá mua bán điện. Ngoài ra, cũng cần sớm triển khai nhân rộng và có cơ chế khuyến khích thu hút vốn ngoài Nhà nước đầu tư xây dựng vào hệ thống truyền tải điện quốc gia”.

Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban
Kinh tế Trung ương

Theo tính toán sơ bộ của Bộ Công Thương, giai đoạn 2021-2030, nhu cầu vốn đầu tư cho ngành điện là 133,3 tỷ USD, giai đoạn 2031-2045 là hơn 184 tỷ USD. Trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư của Nhà nước vào các dự án điện ngày càng khó khăn, việc thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân có vai trò, ý nghĩa quan trọng.

Ông Đặng Huy Đông, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quy hoạch và Phát triển, nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, theo tính toán, 10 năm tới Việt Nam cần thu hút khoảng 150 tỷ USD để đầu tư các dự án phát điện, bằng một nửa tổng GDP hiện nay của đất nước. Với quy mô thị trường vốn trong nước hiện nay và trong ít nhất 5 năm tới, dòng vốn nội sinh của nền kinh tế không thể đáp ứng yêu cầu nguồn vốn cho phát triển ngành điện. Từ 2015, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, cửa tiếp cận nguồn vốn ODA được cho là ưu đãi đang khép lại.

Trong bối cảnh hiện tại dễ thấy, vốn đầu tư từ khu vực tư nhân và vốn FDI sẽ có ý nghĩa quyết định trong đầu tư các dự án điện năng. Tuy nhiên, bài toán huy động 13-15 tỷ USD/năm không dễ dàng khi các nhà đầu tư, tổ chức tư vấn đều khẳng định, môi trường kinh doanh còn lắm rủi ro. “Thị trường vốn quốc tế rất lớn có thể đáp ứng nhu cầu vốn của Việt Nam, nhưng dòng vốn quốc tế có tính cạnh tranh rất cao, theo đúng quy luật cung - cầu và được vận hành theo những chuẩn mực nhất định, đòi hỏi các chủ thể tham gia thị trường phải tuân thủ”, ông Đặng Huy Đông nói.

Còn với vốn đầu tư tư nhân, ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương cho rằng, nguồn vốn này cũng khó do thị trường vốn chưa phát triển, khó đáp ứng các yêu cầu phát hành ra công chúng. Trong khi đó, nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng trong nước khó khả thi, bởi các dự án năng lượng đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi theo Luật Các tổ chức tín dụng, tổng mức dư nợ cấp tín dụng của một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng thương mại; tổng mức dư nợ của một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của ngân hàng thương mại.

Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng gặp khó khăn khi phải cân đối nguồn cho vay do nguồn huy động ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi cho vay các dự án năng lượng là dài hạn. Đồng thời, lãi suất vay vốn các ngân hàng trong nước để thực hiện các dự án điện độc lập (IPP) còn khá cao, chưa có chính sách khuyến khích và hỗ trợ của Nhà nước đối với các dự án năng lượng tái tạo, dẫn đến giá bán điện cao, khiến dự án khó thu xếp vốn trong bối cảnh hiện nay.

Cơ chế giá điện cần đủ sức hấp dẫn

Xung quanh câu chuyện huy động vốn đầu tư cho ngành điện, đặc biệt là huy động nguồn vốn nước ngoài cho các dự án điện IPP, bà Maria Goravanchi, Giám đốc Điều hành khu vực Mekong, Tập đoàn Tài chính Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (DFC) cho biết, tại Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) chính là DN mua điện và nhà đầu tư sẽ không thể bán điện cho ai khác. Yếu tố khác khiến nhà đầu tư quan ngại là rủi ro trong chuyển đổi ngoại tệ, chuyển tiền ra nước ngoài và lo ngại sự can thiệp của Chính phủ trên thị trường ngoại hối.

Nhận định mục tiêu huy động vốn trên 10 tỷ đồng/năm cho phát triển các dư án điện của Việt Nam sẽ không dễ dàng đạt được, ông Hugo Virag, đại diện Tập đoàn Astris Finance (DN chuyên tư vấn về năng lượng-PV) chỉ rõ, việc huy động vốn chỉ có khả năng thành công khi Việt Nam thiết lập được cơ chế gọi vốn cho các dự án điện IPP. “Nhiều nhà đầu tư nhìn thấy cơ hội đầu tư vào Việt Nam, song họ còn nhiều lo ngại về rủi ro pháp lý, về xây dựng, chậm vận hành dự án, rủi ro về khả năng hạn chế mua điện của EVN, rủi ro gián đoạn kinh doanh hay bên bao tiêu mất khả năng thanh toán...”, ông Hugo Virag nói.

Một số chuyên gia cho rằng, để huy động được nguồn vốn quốc tế cho các dự án điện IPP đòi hỏi Việt Nam phải tuân thủ các yêu cầu và luật chơi quốc tế. Với tổng mức đầu tư khoảng 13-15 tỷ USD/năm, quy mô thị trường Việt Nam là đủ sức hấp dẫn. Để tăng khả năng sinh lời và giảm rủi ro nhằm thu hút được dòng vốn quốc tế, trên bình diện quốc gia, Việt Nam cần coi trọng vai trò của xếp hạng tín nhiệm quốc gia vì thông qua đó sẽ giúp Chính phủ, định chế tài chính và DN khi huy động vốn vay hoặc phát hành trái phiếu ra thị trường vốn quốc tế có thể giảm được chi phí huy động vốn. Bên cạnh đó, cơ chế về giá điện cũng cần đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư, từ đó bảo đảm khả năng sinh lời cần thiết để thu hút các dòng vốn quốc tế.

Thanh Nguyễn