Quy định mới về trường hợp được xóa nợ tiền thuế

09:25 | 14/07/2019

(HQ Online) - Luật Quản lý thuế năm 2019 vừa được Quốc hội thông qua ngày 13/6/2019 có một chương riêng về nội dung khoanh nợ, xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt. 

quy dinh moi ve truong hop duoc xoa no tien thue Xóa nợ thuế không có khả năng thu hồi: Giảm tải chi phí và nhân sự quản lý nợ
quy dinh moi ve truong hop duoc xoa no tien thue ĐBQH: Phạt chậm nộp thuế thấp có công bằng với doanh nghiệp nhỏ?
quy dinh moi ve truong hop duoc xoa no tien thue Xóa nợ thuế hơn 117 triệu đồng cho 1 doanh nghiệp tư nhân
quy dinh moi ve truong hop duoc xoa no tien thue Tiếp thu ý kiến sửa Luật Quản lý thuế: Không nên thành lập Hội đồng xem xét xóa nợ thuế
quy dinh moi ve truong hop duoc xoa no tien thue
Luật Quản lý thuế năm 2019 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2020. Ảnh Thuỳ Linh.

Trong đó, những quy định cụ thể về đối tượng, trường hợp khoanh nợ, xóa nợ được quy định khá chi tiết, cụ thể.

Tại Điều 85 của Luật quy định các trường hợp được xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt như sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật về phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt.

Thứ hai, cá nhân đã chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản, bao gồm cả tài sản được thừa kế để nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ.

Trường hợp thứ ba được xóa nợ thuế là: các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế không thuộc trường hợp quy định tại 2 trường hợp nêu trên, mà cơ quan quản lý thuế đã áp dụng biện pháp cưỡng chế quy định tại điểm g khoản 1 Điều 125 của luật này và các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt này đã quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế nhưng không có khả năng thu hồi. Người nộp thuế là cá nhân, cá nhân kinh doanh, chủ hộ gia đình, chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã được xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt quy định tại trường hợp này trước khi quay lại sản xuất kinh doanh hoặc thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh mới thì phải hoàn trả cho Nhà nước khoản nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp đã được xoá.

Thứ tư, tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với các trường hợp bị ảnh hưởng do thiên tai, thảm họa, dịch bệnh có phạm vi rộng đã được xem xét miễn tiền chậm nộp theo quy định tại khoản 8 Điều 59 của Luật này và đã được gia hạn nộp thuế theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 62 của Luật này mà vẫn còn thiệt hại, không có khả năng phục hồi được sản xuất kinh doanh và không có khả năng nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt.

Chính phủ quy định việc phối hợp giữa cơ quan quản lý thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh, chính quyền địa phương bảo đảm các khoản tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã được xóa phải được hoàn trả vào ngân sách nhà nước theo quy định tại trường hợp thứ 3 được xóa nợ, trước khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Đối với khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã không thuộc trường hợp bị tuyên bố phá sản và khoản nợ này đã quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế nhưng không có khả năng thu hồi, thì thẩm quyền xóa nợ quy định như sau: khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt dưới 5 tỷ đồng giao chủ tịch UBND cấp tỉnh; từ 5 đến 10 tỷ đồng giao Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan; từ 10 đến 15 tỷ đồng giao Bộ trưởng Bộ Tài chính và trên 15 tỷ đồng giao Thủ tướng Chính phủ.

Đối với khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thì thẩm quyền xóa nợ giao chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định (không quy định khoản nợ phải quá 10 năm và cũng không quy định mức tiền xóa nợ, nghĩa là không giới hạn về mức tiền xoá nợ).

Thùy Linh