DN phải đáp ứng một số điều kiện nhất định mới được công nhận kho bảo thuế

09:22 | 24/09/2019

(HQ Online) - Đó là hướng dẫn của Tổng cục Hải quan trước đề nghị của Cơ quan Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc (KOTRA) liên quan đến xem xét gỡ bỏ các tiêu chuẩn quy định chặt chẽ liên quan tới kho bảo thuế sử dụng cho mục đích của DN.

dn phai dap ung mot so dieu kien nhat dinh moi duoc cong nhan kho bao thue TPHCM: Ban hành giá thuê đất xây kho ngoại quan, khu bảo thuế

Theo KOTRA, tại Khoản 2 Điều 62 Luật Hải quan 2014 có quy định về thành lập kho bảo thuế trong khu vực nhà máy của DN sản xuất hàng hóa XK với các điều kiện như sau: Doanh thu XK 40 triệu đô la Mỹ; không vi phạm luật hải quan trong 2 năm liên tiếp. Ngoài ra, kho bảo thuế là địa điểm chỉ dành riêng cho nguyên liệu cần thiết trong sản xuất hàng hóa XK. Tuy nhiên, nhiều DN FDI rất cần sử dụng kho bảo thuế cho hoạt động mậu dịch gia công.

KOTRA nêu ví dụ, trường hợp DN may mặc, nhà máy sản xuất có ở các nước lân cận như Campuchia, Ấn Độ và cũng có ở rất nhiều địa phương tại Việt Nam. Trường hợp ký hợp đồng thuê gia công với đối tác (Buyer) mà không chỉ định rõ nhà máy sản xuất ở đâu, thì sẽ bảo quản tạm thời trong kho bảo thuế. Nếu như xác định được nhà máy sản xuất sẽ tiến hành đăng ký NK hoặc chuyển ra nhà máy nước ngoài.

Nếu sử dụng kho bảo thuế dạng kinh doanh, không phải của DN thì phí kho bãi cao hơn nhiều so với kho thông thường. Và đây cũng trở thành nguyên nhân ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh giá cả của các DN FDI. Do vậy, KOTRA đề nghị, cơ quan quản lý Việt Nam xem xét gỡ bỏ các tiêu chuẩn quy định chặt chẽ liên quan tới kho bảo thuế sử dụng cho mục đích của DN.

Về vấn đề này, theo Tổng cục Hải quan, Khoản 9 Điều 4 Luật Hải quan 2014 quy định: “Kho bảo thuế là kho dùng để chứa nguyên liệu, vật tư NK đã được thông quan nhưng chưa nộp thuế để sản xuất hàng hóa XK của chủ kho bảo thuế”. Khoản 2 Điều 62 Luật Hải quan 2014 cũng quy định: “Kho bảo thuế được thành lập trong khu vực nhà máy của DN sản xuất hàng hóa XK”.

Tại Điều 16 Nghị định 68/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan có quy định điều kiện thành lập kho bảo thuế như sau: “1. DN được công nhận là DN ưu tiên được công nhận kho bảo thuế nếu đáp ứng các điều kiện sau: a) Có hệ thống sổ kế toán và ứng dụng công nghệ thông tin theo tiêu chuẩn của cơ quan quản lý nhà nước để theo dõi, quản lý hàng hóa nhập, xuất, lưu giữ, tồn trong kho; b) Nằm trong khu vực cơ sở sản xuất của DN, được ngăn cách với khu vực chứa nguyên liệu, vật tư không được bảo thuế, được lắp đặt hệ thống camera giám sát đáp ứng chuẩn trao đổi dữ liệu của cơ quan Hải quan để giám sát hàng hóa ra, vào kho bảo thuế. 2. DN sản xuất hàng hóa XK có kim ngạch XK từ 40 triệu USD trở lên được công nhận kho bảo thuế, ngoài các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều này còn phải đáp ứng các điều kiện sau: a) Có hoạt động XK ít nhất 2 năm liên tục trở lên mà không vi phạm pháp luật về hải quan và pháp luật thuế; b) Tuân thủ pháp luật kế toán, thống kê; c) Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật”.

Căn cứ quy định nêu trên, Tổng cục Hải quan cho rằng, kho bảo thuế được sử dụng để chứa nguyên liệu, vật tư NK đã được thông quan nhưng chưa nộp thuế để sản xuất hàng hóa XK của chủ kho bảo thuế, do đó, để được công nhận kho bảo thuế thì DN phải đáp ứng một số điều kiện nhất định.

Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng đề nghị DN nghiên cứu các quy định sau, đối chiếu với tình hình thực tế hoạt động của DN để thực hiện cho phù hợp.

Theo đó, trường hợp DN thực hiện hoạt động gia công hàng hóa, DN áp dụng quy định về thủ tục hải quan nêu tại Mục 6 Chương III Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ, đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018) và quy định về thuế nêu tại Khoản 6 Điều 16 Luật Thuế XK, thuế NK; Điều 10, Điều 11 Nghị định 134/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Trường hợp hàng hóa từ nước ngoài đưa vào gửi kho ngoại quan để chờ XK ra nước ngoài hoặc NK vào Việt Nam thì thực hiện theo quy định nêu tại Khoản 10 Điều 4 Luật Hải quan 2014; Điều 85 Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ.

Đảo Lê