Điện, than, dầu khí Việt Nam đã đổi thay thế nào 5 năm qua?

08:38 | 25/02/2021

(HQ Online) - Bộ Công Thương đánh giá, 5 năm qua, ngành năng lượng nói chung và ngành điện lực nói riêng đã có những bước phát triển nhanh, tương đối đồng bộ trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực, cơ bản đảm bảo được an ninh năng lượng quốc gia.

Cần chính sách tín dụng mạnh mẽ hơn cho năng lượng tái tạo
Thực hiện định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia
Quy hoạch năng lượng cần quan tâm tới điện hạt nhân
2327-dmt-2
Thời gian qua, năng lượng tái tạo được quan tâm phát triển, tạo đột phá trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Ảnh: Nguyễn Thanh

Cụ thể, ngành điện đã đảm bảo tốt cân đối điện phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, an ninh quốc phòng và sinh hoạt của người dân.

Chỉ số tiếp cận điện năng Việt Nam có bước tiến vượt bậc, từ vị trí 156/189 quốc gia vùng lãnh thổ (năm 2013) vươn lên vị trí 27/190 và đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN vào năm 2019.

Thị trường điện cạnh tranh tích cực được triển khai, đáp ứng lộ trình quy định của Chính phủ, qua đó, tạo môi trường cạnh tranh công bằng trong đầu tư phát triển nguồn điện, phân phối điện, đảm bảo việc định giá khâu mua bán buôn điện theo cơ chế thị trường, phản ánh đúng các biến động chi phí đầu vào cũng như quy luật cung - cầu.

Đáng chú ý theo Bộ Công Thương, năng lượng tái tạo được quan tâm phát triển, tạo đột phá trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Tới cuối năm 2020, tổng công suất các nguồn điện từ năng lượng tái tạo của Việt Nam đã đạt khoảng 6.000 MW, trong đó có khoảng 6.364 MWp điện mặt trời (tương ứng khoảng 5.290 MW), khoảng 500 MW điện gió và 325 MW công suất điện sinh khối.

Tổng công suất của điện gió, điện mặt trời và điện sinh khối đã chiếm xấp xỉ 10% tổng công suất đặt của hệ thống điện.

Sản lượng điện năng cung cấp từ các nguồn năng lượng tái tạo đã tăng dần từ mức không đáng kể là 320 triệu kWh, chiếm khoảng 0,41% toàn hệ thống năm 2016 lên khoảng 8 tỷ kWh, chiếm 2,53% toàn hệ thống vào năm 2020.

Với ngành dầu khí, Bộ Công Thương nhìn nhận, với việc tiếp tục khai thác mỏ hiện hữu, phát triển các mỏ dầu khí mới, hoàn thành công tác xây dựng, vận hành ổn định các công trình vận chuyển và chế biến dầu khí, ngành dầu khí đã hoàn thành chuỗi giá trị từ khâu tìm kiếm, thăm dò và khai thác, chế biến dầu khí và dịch vụ dầu khí chất lượng cao.

Năm 2020, toàn ngành đã hoàn thành, đưa cụm công trình, gồm: Dự án Phát triển mỏ khí Sao Vàng - Đại Nguyệt, Lô 05-1b&05-1c; Dự án Đường ống thu gom, vận chuyển khí Sao Vàng - Đại Nguyệt; Dự án Đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn 2 toàn tuyến đi vào vận hành (có dòng khí đầu tiên vào ngày 15/11/2020).

“Với sản lượng mỗi năm khoảng 1,5 tỷ m3 khí; 2,8 triệu thùng dầu thô và condensate, nguồn khí Sao Vàng - Đại Nguyệt sẽ đóng góp một nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước và nền kinh tế, bổ sung nguồn khí tự nhiên cho khu vực Đông Nam bộ”, Bộ Công Thương đánh giá.

Cùng với điện và dầu khí, theo Bộ Công Thương, ngành than cũng đã cơ bản hoàn thành mục tiêu tổng quát là xây dựng, trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đồng bộ từ khâu thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tiêu thụ sản phẩm.

Than sản xuất trong nước chủ yếu được cân đối cho các ngành kinh tế trong nước (đặc biệt là cung cấp đủ than cho sản xuất điện) để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; ngoài ra, còn dành một phần hợp lý để xuất khẩu nhằm giúp ngành than khai thác được các nguồn tín dụng dài hạn nước ngoài, có thêm nguồn ngoại tệ để phục vụ nhập khẩu vật tư, thiết bị phục vụ sản xuất.

Về mặt con số, tính chung cả giai đoạn 2016 – 2020, sản xuất than sạch tăng từ 38,7 triệu tấn vào năm 2016 lên khoảng 48,17 triệu tấn vào năm 2020; tiêu thụ than sản xuất trong nước tăng từ 41,1 triệu tấn vào năm 2016 lên trên 47,2 triệu tấn vào năm 2020.

Tính chung cả giai đoạn 2016 -2020, tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu ước đạt 1.049,3 tỷ kWh, tăng trưởng trung bình trong cả giai đoạn là 8%. Tính đến hết năm 2020, tổng công suất của hệ thống điện quốc gia đạt 54.677 MW, tăng 1,32 lần so với năm 2016.

Tính chung cả giai đoạn, gia tăng trữ lượng dầu khí 5 năm 2016 - 2020 ước đạt 56,26 - 61,26 triệu tấn quy dầu, trung bình đạt 11,2 - 12,4 triệu tấn quy dầu/năm, bằng 100% kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 (10 - 30 triệu tấn quy dầu/năm). Tổng sản lượng khai thác dầu khí 5 năm 2016 - 2020 ước đạt 120,87 triệu tấn quy dầu, bằng 100% so với kế hoạch 5 năm.

Thanh Nguyễn