Đề xuất thống nhất một mức thuế xuất khẩu 5% đối với nhiều nhóm thuộc mặt hàng phân bón

20:27 | 21/05/2022

(HQ Online) - Tại dự thảo Nghị định Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan, Bộ Tài chính đã đề xuất quy định thống nhất một mức thuế suất thuế xuất khẩu 5% đối với mặt hàng phân bón thuộc các nhóm mà không phân biệt theo tỷ lệ tài nguyên khoáng sản trong sản phẩm phân bón.

phân bón
Hiện nay diễn biến tình hình thị trường phân bón đang có nhiều biến động. Ảnh: Internet.

Giá mặt hàng phân bón tăng cao

Bộ Tài chính cho biết gần đây đã nhận được kiến nghị của một số cơ quan đề nghị rà soát, xem xét chính sách thuế xuất khẩu đối với mặt hàng phân bón trong bối cảnh giá cả mặt hàng phân bón tăng cao.

Phản hồi vấn đề này Bộ Tài chính cho biết, theo báo cáo của Tập đoàn hóa chất Việt Nam, hiện nay diễn biến tình hình thị trường phân bón đang có nhiều biến động. Giá các loại phân bón trên thế giới và trong nước liên tục tăng cao, chủ yếu do nguyên liệu dùng cho sản xuất trong nước phải nhập khẩu và các loại nguyên liệu này đã tăng giá mạnh trong thời gian qua. Thêm vào đó, tình trạng khan hiếm container rỗng và thiếu nguyên liệu phục vụ cho sản xuất như thiếu quặng apatit tuyển để sản xuất phân bón NP cũng góp phần đẩy giá mặt hàng phân bón tăng cao.

Đến nay, tổng công suất của các cơ sở sản xuất phân bón trong nước là 29,25 triệu tấn/năm. Trong đó, công suất sản xuất phân bón vô cơ là 25,21 triệu tấn/năm, sản xuất phân bón hữu cơ là 4,04 triệu tấn/năm. Trường hợp các nhà máy sản xuất phân bón hoạt động thuận lợi theo công suất thiết kế có thể đáp ứng nhu cầu phân đạm và phân lân trong nước. Riêng phân kali do không có mỏ muối kali nên bắt buộc nước ta phải dựa vào nguồn cung từ nhập khẩu.

Bộ Tài chính thống kê, năm 2021 Việt Nam đã nhập khẩu 4,54 triệu tấn phân bón, tăng 19,4% về khối lượng, tăng 52,6% về kim ngạch và tăng 27,8% về giá so với năm 2020. Trung Quốc là thị trường chủ đạo cung cấp phân bón các loại cho Việt Nam, chiếm 44,5% trong tổng lượng và chiếm 42% trong tổng kim ngạch nhập khẩu phân bón của cả nước, đạt 2,02 triệu tấn, tăng cả lượng, kim ngạch và giá so với năm 2020, với mức tăng tương ứng 27,3%, 65,6% và 30%.

Trong khi đó, cũng trong năm 2021, Việt Nam xuất khẩu 1,35 tấn phân bón, tăng 16,4% về khối lượng, tăng 64,2% về kim ngạch và giá tăng 41,2% so với năm 2020. Campuchia là thị trường tiêu thụ phân bón của Việt Nam nhiều nhất, chiếm tới 40,2% trong tổng lượng và chiếm 37,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu phân bón của cả nước.

Theo Bộ Tài chính, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 quy định khung thuế suất thuế xuất khẩu đối với từng nhóm hàng chịu thuế. Trong đó, mặt hàng phân bón thuộc nhóm 31.01 đến 31.05 có khung thuế xuất khẩu từ 0%-40%. Ngoài ra, trong Biểu thuế xuất khẩu có nhóm hàng số thứ tự 211 có tên mô tả là: “Vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm không quy định ở trên có giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên”, có khung thuế suất thuế xuất khẩu 5- 20%.

Căn cứ quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 và Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan quy định mặt hàng phân bón nếu có giá trị tài nguyên khoáng sản cộng chi phí năng lượng dưới 51% giá thành sản phẩm có thuế suất thuế xuất khẩu là 0%. Đối với mặt hàng phân bón nếu có giá trị tài nguyên khoáng sản cộng chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên có thuế suất thuế xuất khẩu 5%.

Đề xuất một mức thuế xuất khẩu 5%

Bộ Tài chính cho biết, trong thời gian gần đây, giá cả các nguyên liệu sản xuất phân bón trên thị trường thế giới liên tục tăng mạnh do tình hình căng thẳng giữa Nga và Ukraina, cùng với diễn biến dịch Covid-19 làm đứt gãy chuối cung ứng trong khi nhu cầu sử dụng ở mức cao. Nhiều quốc gia đã hạn chế việc xuất khẩu phân bón để giữ lại nguồn cung cho thị trường nội địa.

Trong nước, giá phân bón cũng liên tục tăng và đang ở mức cao. Theo đó, để góp phần hạ giá phân bón trong nước, ổn định nguồn cung, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo quản lý chặt chẽ, tránh gian lận trong quá trình thực hiện, căn cứ khung thuế suất quy định tại Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13, tại dự thảo Nghị định Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan, Bộ Tài chính đề xuất quy định thống nhất một mức thuế suất thuế xuất khẩu 5% đối với mặt hàng phân bón thuộc nhóm 31.02, 31.03, 31.04, 31.05 tại Biểu thuế xuất khẩu, không phân biệt theo tỷ lệ tài nguyên khoáng sản trong sản phẩm phân bón.

Theo đó, đối với loại phân bón có giá trị tài nguyên khoáng sản cộng chi phí năng lượng dưới 51% giá thành sản phẩm sẽ có mức thuế suất thuế xuất khẩu tăng từ 0% lên 5%. Đối với mặt hàng phân bón có giá trị tài nguyên khoáng sản cộng chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên có thuế suất thuế xuất khẩu 5% như hiện hành.

Riêng đối với phân bón thuộc nhóm 31.01 là phân bón hữu cơ, không sử dụng tài nguyên khoáng sản, Bộ Tài chính trình Chính phủ giữ mức thuế suất thuế xuất khẩu là 0% như hiện hành. Đồng thời, do mức thuế suất thuế xuất khẩu mặt hàng phân bón được quy định cụ thể tại Biểu thuế xuất khẩu, không phân biệt theo tỷ lệ tài nguyên khoáng sản được sử dụng như hiện hành, Bộ Tài chính trình Chính phủ bãi bỏ khoản 4 Điều 4 Nghị định số 122/2016/NĐ-CP.

Đánh giá tác động, Bộ Tài chính cho biết phương án đề xuất này sẽ góp phần giữ lại nguồn phân bón cho sử dụng trong nước, nhất là trong bối cảnh giá đang có xu hướng tăng.

Riêng mặt hàng phân bón thuộc các nhóm 31.01, 31.02, 31.03, 31.04, 31.05 mà có giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên áp dụng mức thuế suất thuế xuất khẩu là 5%. Các mặt hàng phân bón không thuộc trường hợp nêu tại điểm a khoản này áp dụng mức thuế suất thuế xuất khẩu quy định cho các nhóm 31.01, 31.02, 31.03, 31.04, 31.05 tại Biểu thuế xuất khẩu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà nước và doanh nghiệp.

Đồng thời giảm bớt thủ tục hành chính do việc doanh nghiệp và cơ quan hải quan phải xác định tỷ lệ tài nguyên khoáng sản chiếm trong sản phẩm như quy định hiện hành, thống nhất về thuế xuất khẩu với các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thực hiện theo phương án này sẽ góp phần tăng thu ngân sách từ phân bón xuất khẩu. Tuy nhiên, phương án này cũng sẽ có một số ảnh hưởng đến các doanh nghiệp sản xuất phân bón. Số tăng thu từ thuế xuất khẩu này có thể giảm xuống nếu như lượng phân bón sản xuất ra được sử dụng tiêu thụ nội địa.

Thùy Linh