Sửa Luật số 69/2014/QH13: Không nên can thiệp vào quản trị, vận hành của doanh nghiệp

10:45 | 11/04/2021

(HQ Online) - Sau hơn 5 năm thực hiện, Luật số 69/2014/QH13 quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế bất cập, cho thấy cần phải hoàn thiện chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp cho phù hợp với thực tiễn.

Luật Quản lý vốn nhà nước: Cần khắc phục tồn tại và làm rõ khái niệm
SCIC đặt mục tiêu lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 3.300 tỷ đồng
Kế hoạch vốn đầu tư của TKV năm 2021 tối đa không quá 6.704 tỷ đồng
Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp sẽ chặt chẽ hơn
Sửa Luật số 69/2014/QH13:  Không nên can thiệp vào quản trị, vận hành của doanh nghiệp
Cần làm rõ vai trò của các cơ quan đại diện chủ sở hữu tại DN có vốn Nhà nước. Ảnh: ST

Nhiều bất cập

Ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) cho biết, khi triển khai thực hiện Luật số 69, có một số bất cập trong xác định vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp như: thẩm quyền quyết định dự án đầu tư, xây dựng, mua bán tài sản cố định; thẩm quyền quyết định đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp; quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp (phương thức chuyển nhượng vốn đầu tư, phân phối lợi nhuận sau thuế…).

Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp trở thành cổ đông, thành viên, và tài sản có được là số cổ phần, phần góp vốn tương ứng. Tuy nhiên, khái niệm về vốn nhà nước tại Luật 69 không còn phù hợp, có sự lẫn lộn, sai lệch về các loại vốn, tài sản, sở hữu tài sản thuộc sở hữu nhà nước và tài sản của DN. Quy định hiện hành làm lẫn lộn và không phân biệt được về mặt pháp lý tài sản của doanh nghiệp và tài sản nhà nước.

Chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Đình Cung

Theo TS. Phan Đằng Chương, Phó Tổng giám đốc, Lãnh đạo dịch vụ tư vấn Công ty TNHH Ernst Young Việt Nam, thực tế đang tồn tại các cách hiểu khác nhau về vốn nhà nước đầu tư vào DN và vốn của DN với một số ý kiến cho rằng cần mở rộng khái niệm vốn nhà nước đến các doanh nghiệp cấp 2. Đồng thời, chưa rõ ràng về nguồn vốn (tương ứng với nó là trình tự/ thủ tục) đầu tư và bổ sung vốn nhà nước vào doanh nghiệp

Ông Chương cho rằng, các quy định về mục tiêu (Điều 5 của Luật) và phạm vi (Điều 10) đầu tư vốn nhà nước cần rõ ràng hơn và cần được điều chỉnh theo mỗi giai đoạn phù hợp với chiến lược phát triển ngành và của địa phương và quốc gia. Để đảm bảo không trùng lắp, mâu thuẫn với các quy định hiện hành, mục tiêu của Luật số 69 chỉ nên tập trung vào quản lý “vốn” nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN. Luật số 69 không nên tập trung vào giải quyết các vấn đề về quản trị và vận hành của DNNN vốn đã được quy định trong khuôn khổ các Luật khác như Luật DN, các khung luật hướng dẫn về quản trị DN.

“Cần làm rõ các khái niệm vốn nhà nước, vốn của DN, vốn nhà nước để tại DN làm cơ sở xem xét trật tự áp dụng các khung luật. Đồng thời, xác định rõ vai trò của DNNN trong nền kinh tế chung, từ đó, xác định ngành, lĩnh vực mà nhà nước cần tham gia đầu tư thành lập, góp hoặc bổ sung tăng hay thoái vốn. Riêng điểm này cần được xử lý trong khuôn khổ rà soát tổng thể về chiến lược ngành và toàn bộ quốc gia”, TS Phan Đằng Chương nói.

Cần đổi mới phương thức quản lý DNNN theo nguyên tắc thị trường, đảm bảo nguyên tắc ở đâu có vốn nhà nước ở đó có sự quản lý, giám sát của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước thông qua người đại diện vốn nhà nước tại DN. Xác định nội dung quản lý nhà nước đối với DN, tránh can thiệp hành chính, nhân sự vào DN.

Chuyên gia kinh tế, TS Lê Đăng Doanh

Theo TS. Lê Đăng Doanh, việc xác định vốn nhà nước đầu tư tại DN đang còn có nhiều cách hiểu khác nhau và được quy định tại nhiều luật nhưng chưa có sự thống nhất, thiếu rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong triển khai thực hiện dự án đầu tư. Nhấn mạnh DNNN phải có quyền tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm đầy đủ về vốn của DN, vốn nhà nước đầu tư vào DN là vốn của DN, nhà nước thu thuế theo luật pháp, không can thiệp hành chính vào quản lý DN, TS Lê Đăng Doanh cho rằng nên sớm sửa đổi, bổ sung Luật 69, xác định phạm vi nhà nước đầu tư, lĩnh vực cổ phần hóa.

Nhiều ý kiến cho rằng cần làm rõ vai trò của các cơ quan đại diện chủ sở hữu. Sau khi đầu tư, các cơ quan đại diện chủ sở hữu là chủ sở hữu phần vốn góp, cổ phần tại doanh nghiệp và có quyền, nghĩa vụ tương tự các nhà đầu tư, các cổ đông của doanh nghiệp. Các cơ quan đại diện chủ sở hữu không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Mọi hoạt động của doanh nghiệp do ban điều hành thực hiện; tách chức năng quản lý của chủ sở hữu nhà nước với quản lý điều hành doanh nghiệp.

Xem xét trách nhiệm DN khi báo cáo không trung thực

Theo TS. Phan Đằng Chương, liên quan đến nhóm ý kiến về công khai minh bạch thông tin, các ý kiến khảo sát cho rằng nhiều quy định về công bố thông tin như Luật số 69, Luật Doanh nghiệp, Nghị định số 87/2015/NĐ-CP, Nghị định số 81/2015/NĐ-CP và Luật Chứng khoán (đối với DN đại chúng) gây khó khăn cho DN do nhiều đầu mối công bố, nhiều cổng thông tin điện tử riêng biệt dẫn đến quá trình kê khai mất thời gian, nhiều mẫu biểu khác nhau với những nội dung tương tự.

Kiến nghị một số vấn đề cần xem xét để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc công khai minh bạch thông tin, TS. Phan Đằng Chương cho rằng, cần lựa chọn hình thức công bố thông tin dưới dạng dữ liệu điện tử nhằm giảm thiểu công văn giấy tờ, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của DN, đồng thời phù hợp với xu hướng xây dựng xã hội số văn minh hiện đại, đồng thời thống nhất nội dung cần công bố giữa các bộ, ban, ngành, tránh thiếu sót, chồng chéo. Thời gian công bố thông tin có tính khả thi và hợp lý với các tổng công ty, tập đoàn có quy mô lớn, nhiều đơn vị trực thuộc và cần xem xét đồng bộ hệ thống thông tin giữa DN, cơ quan đại diện chủ sở hữu, Bộ KH&ĐT và Bộ Tài chính.

Đại diện Chi cục Tài chính DN, Sở Tài chính TPHCM cũng phản ánh, liên quan đến nội dung giám sát DN của chủ sở hữu vốn nhà nước, cần loại trừ trách nhiệm của chủ sở hữu trong trường hợp DN báo cáo không trung thực. Lấy dẫn chứng, DN muốn đầu tư một số dự án nên trong các báo cáo của DN gần như không có gì sai, hoạt động nào cũng hiệu quả, vị này đặt vấn đề: “Trong trường hợp đó, nếu chúng tôi tham mưu cho chủ sở hữu chấp thuận đầu tư dự án đó, nhưng thực tế khi thực hiện có những nội dung không như báo cáo, vậy trách nhiệm của các cơ quan, DN sẽ được xem xét như thế nào để phù hợp?”.

Đồng thời đề nghị, tới đây, Luật 69 sửa đổi cũng phải làm rõ vấn đề này để chúng tôi yên tâm tham mưu cho chủ sở hữu và chủ sở hữu quyết định các nội dung tham mưu. Bên cạnh đó, cũng cần làm rõ trách nhiệm của DN trong việc báo cáo chưa đầy đủ, chưa chính xác dẫn tới những quyết định của chủ sỡ hữu chưa phù hợp.

Hoài Anh