Số tiền gia hạn thuế năm 2021 sẽ phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

10:22 | 23/05/2021

(HQ Online) - Theo bà Lê Thị Duyên Hải, Vụ trưởng Vụ Kê khai và kế toán thuế (Tổng cục Thuế), ngành Thuế ước tính tổng số thuế và tiền thuê đất được gia hạn theo chính sách giãn, hoãn thời hạn nộp thuế là 115.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, thực tế còn sẽ còn bị phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm 2021.

Một số lưu ý khi nộp giấy đề nghị gia hạn nộp thuế, nộp tiền thuê đất năm 2021
Doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ kinh doanh sẽ xử lý thuế như thế nào?
Số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế tăng mạnh
Số tiền gia hạn thuế năm 2021 sẽ phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Bà Lê Thị Duyên Hải, Vụ trưởng Vụ kê khai và kế toán thuế.

Mới đây Chính phủ đã ban hành Nghị định 52/2021/NĐ-CP về việc gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất trong năm 2021. Bà có thể chia sẻ một vài điểm nổi bật của Nghị định này?

Quán triệt tinh thần của Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tiếp tục có những diễn biến mới và chưa có dấu hiệu dừng, ngay từ cuối năm 2020, Bộ Tài chính đã tiếp tục báo cáo Chính phủ cần thiết phải tiếp tục hỗ trợ người nộp thuế (NTT) bằng chính sách gia hạn.

Theo đó, đối tượng tiếp tục được gia hạn trong năm 2021 bao gồm toàn bộ các đối tượng của Nghị định 41/2020/NĐ-CP, đồng thời bổ sung thêm các đối tượng là tổ chức, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực như: hoạt động xuất bản; hoạt động điện ảnh, sản xuất chương trình truyền hình, ghi âm và xuất bản âm nhạc; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên (không gia hạn đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của dầu thô, condensate, khí thiên nhiên được thu theo hiệp định, hợp đồng); sản xuất đồ uống; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị); sản xuất mô tô, xe máy; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị; thoát nước và xử lý nước thải; hoạt động phát thanh, truyền hình; lập trình máy vi tính, dịch vụ tư vấn và các hoạt động khác liên quan đến máy vi tính; hoạt động dịch vụ thông tin; hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai khoáng.

Nghị định 52 cũng làm rõ đối với doanh nghiệp, tổ chức có các chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế giá trị gia tăng (GTGT) riêng với cơ quan Thuế quản lý trực tiếp của chi nhánh, đơn vị trực thuộc thì các chi nhánh, đơn vị trực thuộc cũng thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế GTGT. Trường hợp chi nhánh, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp, tổ chức không có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc ngành kinh tế, lĩnh vực được gia hạn thì chi nhánh, đơn vị trực thuộc không thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế GTGT.

Nghị định 52 bổ sung quy định Chủ đầu tư các công trình, hạng mục công trình xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, các khoản thanh toán từ nguồn ngân sách nhà nước cho các công trình xây dựng cơ bản của các dự án sử dụng vốn ODA thuộc diện chịu thuế GTGT khi làm thủ tục thanh toán với Kho bạc Nhà nước phải gửi kèm thông báo cơ quan thuế đã tiếp nhận Giấy đề nghị gia hạn hoặc Giấy đề nghị gia hạn có xác nhận đã gửi cơ quan thuế của nhà thầu thực hiện công trình.

Kho bạc Nhà nước căn cứ trên hồ sơ do chủ đầu tư gửi để chưa thực hiện khấu trừ thuế GTGT trong thời gian gia hạn. Khi hết thời gian gia hạn, nhà thầu phải nộp đủ số thuế được gia hạn tại cơ quan thuế theo quy định.

Cần lưu ý rằng, Nghị định 41 cho gia hạn đối với số thuế còn phải nộp theo quyết toán năm 2019 nhưng Nghị định 52 không có nội dung tương tự là do tại thời điểm quyết toán thuế TNDN 2019 vào cuối tháng 3/2020 thì đại dịch Covid-19 tại Việt nam đang bùng phát và nhiều tỉnh, thành phố của Việt Nam phải thực hiện giãn cách xã hội.

Nghị định 52 áp dụng đối với các đối tượng là doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động sản xuất trong các ngành kinh tế. Vậy làm thế nào để xác định được doanh nghiệp có thuộc các ngành đó khi có thể tại thời điểm gửi giấy đề nghị gia hạn nhưng chưa phát sinh doanh thu. Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành nghề nhưng có ngành lại không thuộc đối tượng được gia hạn thì phải xác định như thế nào, thưa bà ?

Tại Điều 3 Nghị định 52 đã quy định ngành kinh tế, lĩnh vực của doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được xét gia hạn tiền thuế, tiền thuê đất là ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát sinh doanh thu trong năm 2020 hoặc năm 2021.

Do đó, NNT hoàn toàn có thể tự xác định được mình có thể thuộc đối tượng được gia hạn hay không để gửi Giấy đề nghị gia hạn đến cơ quan thuế.

Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nhiều ngành kinh tế khác nhau trong đó có ngành kinh tế, lĩnh vực quy định tại Nghị định thì được gia hạn toàn bộ số thuế GTGT, số thuế TNDN phải nộp, không phân biệt số thuế phát sinh theo từng lĩnh vực hoạt động. Quy định này đã được áp dụng trong năm 2020 khi thực hiện Nghị định 41 và không phát sinh vướng mắc.

Xin bà cho biết, ngành Thuế có những giải pháp gì để phát hiện NNT không thuộc đối tượng được gia hạn nhưng vẫn gửi Giấy đề nghị gia hạn để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và công bằng với những NNT khác?

Thực tế, hầu hết NNT đều tự giác trong việc tự xác định mình có thuộc đối tượng được gia hạn hay không để gửi Giấy đề nghị gia hạn đến cơ quan thuế, tuy nhiên, cũng vẫn có số rất ít NNT mặc dù biết mình không thuộc đối tượng được gia hạn nhưng vẫn gửi Giấy đề nghị gia hạn đến cơ quan thuế để được hưởng chính sách hỗ trợ của nhà nước, điều này có thể dẫn đến việc vi phạm pháp luật về chiếm dụng tiền thuế của ngân sách nhà nước.

Do đó, bên cạnh việc chỉ đạo cơ quan Thuế các cấp tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, ngành Thuế cũng đã triển khai nhiều biện pháp để kịp thời phát hiện NNT không đủ điều kiện gia hạn thông qua cơ sở dữ liệu quản lý thuế, kiểm tra hồ sơ thuế, thu thập và phân tích thông tin về tình trạng sản xuất kinh doanh của NNT để từ đó, xác định chính xác NNT không đủ điều kiện, thông báo yêu cầu NNT nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp không được gia hạn vào ngân sách nhà nước. Đồng thời, ghi nhận thông tin vi phạm của NNT để đánh giá rủi ro về NNT trong quản lý thuế.

Với việc thực hiện Nghị định 52, ngành Thuế có thể ước tính số tiền thuế, tiền thuê đất được gia hạn trong năm 2021 là bao nhiêu, thưa bà?

Thực hiện Nghị định 52, ngành Thuế ước tính tổng số thuế và tiền thuê đất được gia hạn theo chính sách giãn, hoãn thời hạn nộp thuế là 115.000 tỷ đồng (dự kiến thuế GTGT khoảng 68.800 tỷ đồng, thuế TNDN khoảng 40.500 tỷ đồng, tiền thuê đất khoảng 4.400 tỷ đồng, hộ gia đình cá nhân kinh doanh khoảng 1.300 tỷ đồng).

Tuy nhiên, trong bối cảnh dịch Covid-19 còn đang diễn biến phức tạp thì số liệu thực tế được gia hạn phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm 2021.

Xin cảm ơn bà!

Thùy Linh