Những thay đổi khi áp dụng mô hình quản lý hàng hóa mới tại Nội Bài

08:52 | 01/10/2020

(HQ Online) - Hệ thống một cửa quốc gia và Hệ thống quản lý, giám sát hải quan tự động tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài đã chính thức được vận hành sau 2 năm triển khai thí điểm. Trên cơ sở tổng kết bài học kinh nghiệm triển khai, cơ quan Hải quan tập trung nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện hệ thống, mở rộng triển khai ra phạm vi toàn quốc; đồng thời nghiên cứu, mở rộng và áp dụng hệ thống này để quản lý, giám sát hàng hóa đường đường bộ trong thời gian tới. Vậy Hệ thống một cửa quốc gia và Hệ thống quản lý, giám sát hải quan tự động đã tạo nên sự thay đổi như thế nào?

Chính thức triển khai Hệ thống quản lý giám sát hải quan tự động tại Nội Bài
Hai hệ thống thay đổi mô hình quản lý tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài
Tặng giấy khen về thành tích triển khai hệ thống quản lý giám sát tự động tại Nội Bài
Hải quan Nội Bài sẵn sàng nguồn lực đón các chuyến bay quốc tế
Sẵn sàng triển khai chính thức hệ thống Một cửa quốc gia và Giám sát tự động tại Nội Bài
1729 10 4844 img 0279
Công chức Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài kiểm tra hàng hóa XNK. Ảnh: N.Linh

Giảm thiểu giấy tờ, đầu mối

Khi chưa triển khai hệ thống, trước mỗi chuyến bay, hãng hàng không (hoặc đơn vị được ủy quyền) phải tạo lập, in ấn và phân phát cho cơ trưởng của chuyến bay nhiều bộ hồ sơ giấy, mỗi bộ hồ sơ gồm nhiều loại hồ sơ giấy. Sau khi tàu bay nhập cảnh, cơ trưởng (hoặc đơn vị dịch vụ mặt đất được hãng hàng không ủy quyền) nộp các bộ hồ sơ giấy nêu trên cho cho cơ quan Hải quan và các cơ quan quản lý nhà nước khác tại sân bay quốc tế. Cùng một loại hồ sơ chuyến bay, hãng hàng không sẽ phải chuẩn bị thành nhiều bản, nộp nhiều lần cho các cơ quan quản lý khác nhau.

Với cách thức gửi hồ sơ như vậy, cơ quan Hải quan chỉ có thể kiểm tra, phân loại, phân tích thông tin từ hồ sơ giấy nhận được sau chuyến bay nên không có đủ thời gian thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro, xác định đối tượng trọng điểm. Do vậy, việc bố trí lực lượng bị dàn trải, các phương án giám sát, kiểm tra phải dựa nhiều vào kinh nghiệm và đầu tư nhiều thời gian, nhân lực.

Tuy nhiên, khi triển khai hệ thống, trước khi tàu bay nhập cảnh (3 giờ đối với các chuyến bay có thời gian bay dài, 30 phút đối với các chuyến bay ngắn), hãng hàng không gửi dữ liệu điện tử đến Hệ thống một cửa quốc gia. Dữ liệu điện tử chỉ cần gửi một lần duy nhất tới hệ thống. Cơ quan Hải quan nhận được thông tin trước chuyến bay có thể chủ động phân tích, lập phương án, biện pháp, bố trí lực lượng giám sát hải quan phù hợp, tập trung vào các đối tượng trọng điểm.

Ngay sau khi tàu hạ cánh, danh sách hàng hóa dự kiến xếp dỡ được gửi đến hệ thống của DN kho hàng không. Hệ thống giám sát hải quan tự động tiếp nhận thông tin hàng hóa vào kho từ hệ thống của doanh nghiệp kho gửi, đối chiếu với thông tin danh sách dự kiến xếp dỡ; tiếp nhận thông tin hàng hóa sai khác do kho gửi đến. Công chức giám sát thực hiện soi chiếu trước đối với hàng hóa sai khác hoặc hàng hóa được xác định trọng điểm và phê duyệt nội dung khai sửa đổi, bổ sung thông tin do hãng hàng không khai báo, xử lý vi phạm theo quy định (nếu có).

Như vậy, tất cả các lô hàng vào kho đều được giám sát tự động, đảm bảo thanh khoản được tất cả các lô hàng vào kho.

Nâng cao năng lực quản lý

Đối với việc quản lý hàng hóa lưu giữ trong kho khi chưa triển khai hệ thống công chức giám sát định kỳ phải thực hiện thủ công việc kiểm kê hàng hóa, xác định danh sách hàng hóa lưu giữ quá thời hạn quy định để xử lý; thực hiện kiểm kê nhập – xuất – tồn theo năm hoặc theo yêu cầu đột xuất; phối hợp với doanh nghiệp kho lập, rà soát các báo cáo, thống kê hàng hóa nhập – xuất –tồn kho; thực hiện ghi chép các kết quả kiểm kê, rà soát…. Do phải thực hiện thủ công, việc quản lý hàng hóa lưu giữ trong kho gặp nhiều khó khăn, tiêu tốn thời gian, nhân lực của cơ quan Hải quan.

Tuy nhiên, khi triển khai Hệ thống giám sát hải quan tự động đã cung cấp công cụ tra cứu và các báo cáo thống kê về hàng hóa nhập – xuất – tồn có sẵn trên hệ thống; cảnh báo danh sách hàng hóa lưu giữ lâu (quá 30, 60, 90 ngày phải xử lý theo quy định). Công chức giám sát sử dụng báo cáo sẵn có trên hệ thống để kiểm tra, giám sát và phối hợp với doanh nghiệp kho, lập biên bản bất thường đối với những lô hàng rách, vỡ, bẹp kiện …

Trong quá trình giám sát hàng hóa đưa ra khỏi kho sự thay đổi cũng nhìn thấy rõ. Khi chưa triển khai hệ thống, các bước giám sát hàng hóa thực hiện thủ công. Đối với tờ khai nhập khẩu người khai hải quan phải xuất trình tờ khai hải quan được thông quan, giải phóng hàng, vận đơn cho công chức hải quan và doanh nghiệp kho để nhận hàng. Doanh nghiệp kho lập phiếu xuất kho theo vận đơn, tờ khai hải quan do người khai hải quan cung cấp, thực hiện trả hàng theo chứng từ đủ điều kiện qua khu vực giám sát hải quan có ký tên, dấu công chức hải quan. ­Công chức hải quan phải căn cứ trên nhiều giấy tờ giấy để cho phép hàng đưa ra khỏi khu vực giám sát.

Khi triển khai Hệ thống giám sát hải quan tự động, người khai hải quan chỉ cần xuất trình tờ khai hải quan được thông quan, giải phóng hàng, vận đơn cho doanh nghiệp kho để nhận hàng. Doanh nghiệp kho thực hiện trả hàng theo thông tin hàng hóa đủ điều kiện qua khu vực giám sát do Hệ thống giám sát hải quan tự động thiết lập. Hệ thống tự động tiếp nhận, kiểm tra, phản hồi thông tin khai báo của doanh nghiệp kho.

Sự khác biệt sau khi triển khai Hệ thống một cửa quốc gia và Hệ thống quản lý, giám sát hải quan tự động tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài còn thể hiện ở thời gian cần thiết để thông quan hàng hóa.

Trước khi triển khai hệ thống, với số lượng công chức được phận công giám sát tại Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài là 70 công chức, thực hiện giám sát theo 2 ca làm việc, phân công dàn trải cho nhiều vị trí giám sát, thời gian cần thiết để giám sát đối với mỗi lô hàng từ khi vào khu vực giám sát hải quan đến khi ra khỏi khu vực giám sát hải quan cần từ 3 đến 6 giờ làm việc do lưu lượng phương tiện vận tại, hàng hóa, tờ khai phải giám sát là lớn.

Sau khi triển khai hệ thống, thời gian cần thiết để giám sát đối với mỗi lô hàng từ khi vào khu vực giám sát hải quan đến khi ra khỏi khu vực giám sát hải quan chỉ cần từ 5 đến 10 phút, không phụ thuộc vào lưu lượng phương tiện, hàng hóa nhập kho, xuất kho, tờ khai hải quan: Hệ thống được thiêt lập 5 phút một lần, hệ thống sẽ đối chiếu sự phù hợp thông tin hàng hóa vào kho với thông tin hàng hóa đủ điều kiện qua khu vực giám sát theo tờ khai hải quan làm cơ sở để trả lời hỏi, đáp thông tin từ hệ thống của doanh nghiệp kho về việc lô hàng được phép qua khu vực giám sát hay chưa được phép theo phương thức hỏi đáp khi trả hàng của hệ thống doanh nghiệp kho. Nếu cho phép trả hàng, hệ thống xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát.

Bên cạnh đó, quản lý rủi ro trong quá trình quản lý, giám sát hàng hóa cũng được áp dụng mạnh mẽ nhằm giảm thời gian thông quan cũng như kịp thời phát hiện vi phạm. Dựa vào thông tin khai báo trước, công chức quản lý rủi ro thực hiện phân tích thông tin trước thời điểm tàu bay hạ cánh. Hệ thống hỗ trợ xác định đối tượng trọng điểm và cung cấp thông tin cảnh báo cho công chức hải quan lập danh sách hàng hóa cần soi chiếu trước, tờ khai hải quan cần dừng thông quan đột xuất để kiểm tra thực tế hàng hóa trước khi thông quan.

Ngọc Linh