Công dân được làm thẻ Căn cước từ khi mới sinh

21:54 | 04/06/2014

(HQ Online)- Theo dự án Luật Căn cước công dân do Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang thừa ủy quyền của Chính phủ trình Quốc hội chiều 4-6, ngay từ khi làm thủ tục khai sinh, công dân đã có thể làm thẻ Căn cước công dân.

cong dan duoc lam the can cuoc tu khi moi sinh

Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang đọc tờ trình dự án Luật Căn cước công dân. Ảnh: Anh Đức.

Thẻ Căn cước công dân (thay thế cho tên gọi hiện nay là Chứng minh nhân dân) là giấy tờ tùy thân có giá trị chứng nhận căn cước của công dân Việt Nam, do cơ quan có thẩm quyền cấp từ cơ sở dữ liệu căn cước công dân.

Trong tờ trình của Chính phủ, trên thẻ Căn cước công dân có thông tin về nơi thường trú của công dân và do đó, sau khi hoàn thành cơ sở hạ tầng và tích hợp đầy đủ dữ liệu về công dân sẽ bỏ sổ hộ khẩu.

Trên thẻ Căn cước công dân cũng có thông tin về họ và tên khai sinh, họ và tên gọi khác, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc. Các thông tin này được tích hợp từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nên công dân có thể sử dụng thẻ Căn cước công dân để chứng minh các thông tin này trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân mà không cần phải sử dụng một số giấy tờ khác của công dân.

Mặt khác, trên thẻ Căn cước công dân có số định danh cá nhân của mỗi người, giúp cho công dân thuận tiện khi giải quyết các thủ tục hành chính, thực hiện các giao dịch dân sự, giúp cơ quan, tổ chức kiểm tra, khai thác các thông tin về công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Khoản 2 Điều 18 dự thảo Luật quy định, trên thẻ Căn cước công dân có bộ phận điện tử để lưu trữ, khai thác thông tin về công dân. Quy định này làm cơ sở tích hợp các thông tin cần thiết trên thẻ Căn cước công dân để phát triển thành thẻ công dân điện tử.

Nếu như trước đây, số Chứng minh nhân dân sẽ thay đổi khi công dân thay đổi nơi thường trú từ tỉnh này sang tỉnh khác nên rất khó quản lý và có thể lặp lại ở người khác, nay dự thảo Luật quy định theo hướng số định danh cá nhân được sử dụng làm số thẻ Căn cước công dân. Trường hợp đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân thì số thẻ Căn cước công dân vẫn giữ đúng theo số định danh cá nhân đã cấp.

Đồng thời, dự thảo Luật quy định rõ, số định danh cá nhân là mã số công dân gồm 12 số tự nhiên, được xác lập từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Bộ Công an quản lý thống nhất trên toàn quốc, được cấp cho mỗi công dân Việt Nam và không lặp lại ở người khác, dùng để xác định dữ liệu cụ thể của một người trong cơ sở dữ liệu.

Pháp luật về căn cước công dân hiện hành quy định hạn sử dụng của giấy tờ về căn cước công dân là 15 năm, kể từ ngày cấp. Thực tế cho thấy, quy định này chưa phù hợp với công dân ở các độ tuổi khác nhau do ở mỗi độ tuổi thì mức độ thay đổi về đặc điểm nhân dạng là khác nhau.

Do đó, dự thảo Luật quy định theo hướng: Đối với thẻ của người dưới 15 tuổi thì hạn sử dụng là từ khi cấp đến khi người đó đủ 14 tuổi. Đối với thẻ của người từ 15 tuổi đến dưới 25 tuổi thì hạn sử dụng là 10 năm, kể từ ngày cấp. Đối với thẻ của người từ đủ 25 tuổi đến dưới 70 tuổi thì hạn sử dụng là 15 năm, kể từ ngày cấp. Riêng đối với người từ 70 tuổi trở lên thì không xác định hạn sử dụng của thẻ.

Một bước tiến quan trọng so với quy định của pháp luật hiện hành là dự thảo Luật quy định cấp thẻ Căn cước công dân cho công dân dưới 15 tuổi, ngay từ khi làm thủ tục khai sinh để bảo đảm quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013.

Đồng thời, dự Luật không quy định hạn chế người được cấp thẻ Căn cước công dân, kể cả người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình.

Hơn nữa, dự Luật còn quy định cả trường hợp cơ quan quản lý căn cước công dân sẽ đổi thẻ Căn cước công dân theo yêu cầu của công dân theo tinh thần Nhà nước phục vụ nhân dân.

Dự án Luật Căn cước công dân bao gồm 5 chương, 36 điều.

An Tư