Vốn đầu tư sân bay Long Thành tương đương các cảng hàng không lớn trên thế giới

09:10 | 24/11/2019

(HQ Online) - Theo Chính phủ, so sánh quốc tế cho thấy với suất đầu tư khoảng 15 tỷ USD/100 triệu hành khách của Cảng hàng không quốc tế Long Thành là tương đương với suất đầu tư các cảng hàng không lớn trên thế giới.

von dau tu san bay long thanh khong he dat do Cảng hàng không quốc tế Long Thành: ACV sẽ huy động vốn như thế nào?
von dau tu san bay long thanh khong he dat do Lo lặp lại “vết xe đổ” 12 dự án thua lỗ trong đầu tư sân bay Long Thành
von dau tu san bay long thanh khong he dat do
Phối cảnh dự kiến sân bay Long Thành. Ảnh: Internet

"16 tỷ USD là đắt đỏ”?

Chính phủ vừa có báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của Quốc hội về Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1. Trong đó, vốn đầu tư dự án là một trong những nội dung nổi cộm được Chính phủ làm rõ, giải trình.

Thảo luận tại nghị trường Quốc hội, một số đại biểu Quốc hội cho rằng vốn đầu tư Cảng hàng không quốc tế Long Thành 16 tỷ USD là “đắt đỏ” so với các Cảng hàng không quốc tế cùng loại.

Theo đó, cần so sánh tổng mức đầu tư của Cảng hàng không quốc tế Long Thành với 2 công trình hiện đại nhất thế giới mới vận hành năm 2019 là Cảng hàng không quốc tế Đại Hưng (Bắc Kinh, Trung Quốc) diện tích 4.700 ha tương đương với Long Thành, thiết kế 7 đường băng công suất 100 triệu hành khách và 4 triệu tấn hàng hóa, vốn đầu tư 11,5 tỷ USD; Cảng hàng không quốc tế Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) thiết kế 4 đường băng, công suất 90 triệu lượt hành khách, vốn đầu tư 12 tỷ USD.

Giải trình vấn đề này, Chính phủ nêu rõ: Trong số 16 tỷ USD của Cảng hàng không Long Thành, tổng mức đầu tư cho phần xây dựng hạ tầng khoảng 15,05 tỷ USD.

So sánh quốc tế cho thấy với suất đầu tư khoảng 15 tỷ USD/100 triệu hành khách của Cảng hàng không quốc tế Long Thành là tương đương với suất đầu tư các cảng hàng không lớn trên thế giới.

Cụ thể, Cảng hàng không quốc tế Đại Hưng (xây dựng năm 2014 vận hành khai thác từ tháng 9/2019) có tổng mức đầu tư khoảng 11,7 tỷ USD (tại thời điểm hoàn thành), công suất 72 triệu hành khách/năm, nghĩa là khoảng 16,26 tỷ USD/100 triệu hành khách.

Cảng hàng không quốc tế Istanbul (xây dựng năm 2015 vận hành khai thác năm 2018) có tổng mức đầu tư khoảng 12 tỷ USD, công suất 90 triệu hành khách/năm, nghĩa là khoảng 13,33 tỷ USD/100 triệu hành khách (tính tại thời điểm 2015, do đó tính trượt giá đến thời điểm hiện nay là khoảng 14,59 tỷ USD/100 triệu hành khách).

Riêng với giai đoạn 1 đầu tư Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Chính phủ nêu rõ: Tổng mức đầu tư (bao gồm cả dự phòng khối lượng và dự phòng trượt giá theo quy định) là 4,779 tỷ USD.

Với suất đầu tư 4,779 tỷ USD/25 triệu hành khách của Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 là tương đương với suất đầu tư của các cảng hàng không lớn trên thế giới.

Chính phủ đưa ra dẫn chứng, Cảng hàng không quốc tế Incheon (Hàn Quốc) giai đoạn 3 (vận hành khai thác từ tháng 1/2018) có tổng mức đầu tư khoảng 4,3 tỷ USD cho công suất 18 triệu hành khách/năm, tức khoảng 5,9 tỷ USD/25 triệu hành khách.

“Sự so sánh này chỉ mang ý nghĩa tham khảo. Do cảng hàng không là một công trình phức hợp, sự khác biệt về mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, phạm vi công việc thực hiện, thời điểm đầu tư, công nghệ áp dụng, các chính sách thuế, phí, dự phòng ở các quốc gia khác nhau nên tổng mức đầu tư sẽ khác nhau”, Chính phủ đánh giá.

Sân bay Long Thành có cần tới 5.000 ha đất?

Theo Báo cáo nghiên cứu Tiền khả thi (Pre-FS) đã được Quốc hội thông qua, Cảng hàng không quốc tế Long Thành có diện tích là 5.000 ha đất, công suất 100 triệu hành khách/năm và 5 triệu tấn hàng hóa/năm. Có ý kiến cho rằng diện tích này là quá lớn nếu so với các sân bay khác.

Chính phủ đánh giá, việc chỉ đưa ra một số chỉ tiêu để so sánh về quy mô sử dụng đất của Long Thành với một số cảng hàng không trên thế giới là “chưa hoàn toàn phù hợp” vì chưa đủ các thông tin như: Công suất khai thác hàng hóa, các công trình phụ trợ dịch vụ thương mại, hay mức dịch vụ của cảng hàng không...

Ví dụ, Cảng hàng không Heathrow (Anh) hiện tại với diện tích khoảng 1.200 ha, khai thác 80 triệu hành khách/năm là sân bay cũ đã được phát triển mở rộng qua nhiều giai đoạn với nhà ga hành khách đầu tiên từ năm 1968 và hiện tại chỉ khai thác được công suất hàng hóa là 1,7 triệu tấn/năm, đang có kế hoạch tiếp tục mở rộng để nâng công suất hàng hóa.

Cảng hàng không Bắc kinh diện tích 1.480 ha với công suất 85 triệu hành khách/năm là sân bay cũ, hiện đã quá tải do hạn chế về cơ sở hạ tầng. Hiện tại, Trung Quốc đã xây dựng một cảng hàng không mới là Đại Hưng với tổng diện tích đất khoảng 4.700 ha, công suất thiết kế 100 triệu hành khách/ năm là tương đương với quy mô sử dụng đất của Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

Xung quanh câu chuyện đầu tư Cảng hàng không quốc tế Long Thành, một số ý kiến đề nghị rà soát sự giao cắt vùng hoạt động bay giữa các sân bay: Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hòa, Cảng hàng không quốc tế Long Thành, cả 3 sân bay nằm trong bán kính 30 km.

Theo Chính phủ, Cảng hàng không quốc tế Long Thành cách sân bay Biên Hòa khoảng 30km, cách cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất khoảng 43 km, khoảng cách giữa Tân Sơn Nhất tới sân bay Biên Hòa khoảng 25 km.

Trên thế giới và tại Việt Nam, việc có từ 2 sân bay trở lên nằm gần nhau trong bán kính 50 km không phải ngoại lệ.

Đối với cụm sân bay: Long Thành, Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu việc tổ chức vùng trời và xây dựng các phương thức bay để đảm bảo hoạt động bình thường cho cả 3 sân bay…

Theo chương trình làm việc của Quốc hội, chiều ngày 26/11, Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua Nghị quyết về báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1.

Chính phủ trình Quốc hội, giai đoạn 1 dự án sân bay Long Thành gồm 4 hạng mục.

Hạng mục 1 (các công trình trụ sở cơ quan quản lý nhà nước): Giao Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) đầu tư, sau đó cho các cơ quan quản lý nhà nước thuê lại.

Hạng mục 2 (các công trình phục vụ quản lý bay): Giao Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM) trực tiếp đầu tư bằng vốn của doanh nghiệp.

Hạng mục 3 (các công trình thiết yếu của cảng hàng không): Giao ACV trực tiếp đầu tư bằng vốn của doanh nghiệp.

Hạng mục 4 (các công trình dịch vụ): Giao ACV hợp tác đầu tư, nhượng quyền đầu tư, khai thác hoặc xã hội hóa đầu tư. Hình thức đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư.

Thanh Nguyễn