Thực hiện xử lý thuế đối với hàng hóa NK để gia công đưa đi gia công lại

09:13 | 22/10/2020

(HQ Online) - Tổng cục Hải quan vừa có văn bản hướng dẫn các cục hải quan tỉnh, thành phố thực hiện xử lý thuế đối với hàng hóa NK để gia công đưa đi gia công lại nhưng không thông báo cơ sở gia công lại, hợp đồng gia công lại với cơ quan Hải quan theo đúng thời hạn quy định.

Hàng hóa thuê doanh nghiệp chế xuất gia công nhập lại nội địa tính thuế thế nào?
Xử phạt hành chính nếu không thông báo hợp đồng gia công lại đúng thời hạn

Thời gian qua, Tổng cục Hải quan nhận được phản ánh vướng mắc về xử lý thuế đối với hàng hóa NK để gia công đưa đi gia công lại nhưng không thông báo cơ sở gia công lại, hợp đồng gia công lại với cơ quan Hải quan theo đúng thời hạn quy định, sau khi trao đổi với các cơ quan chức năng, Tổng cục đề nghị các cục hải quan tỉnh, thành phố căn cứ quy định tại khoản 6 Điều 16 Luật Thuế XK, thuế NK và khoản 1 Điều 10 Nghị định 134/2016/NĐ-CP của Chính phủ để thực hiện. Cụ thể, theo quy định trên thì hàng hóa NK để gia công theo hợp đồng gia công được miễn thuế NK (bao gồm: nguyên liệu, bán thành phẩm, vật tư...);

Điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định 134/2016/NĐ-CP quy định người nộp thuế hoặc tổ chức, cá nhân nhận gia công lại cho người nộp thuế có cơ sở gia công, sản xuất hàng hóa XK trên lãnh thổ Việt Nam và thực hiện thông báo cơ sở gia công, sản xuất theo quy định của pháp luật về hải quan và thông báo hợp đồng gia công cho cơ quan Hải quan.

Điều 59 Luật Hải quan cũng quy định hàng hóa là nguyên liệu, vật tư NK để gia công, sản xuất hàng hóa XK phải chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ khi NK, trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cho đến khi sản phẩm được XK hoặc thay đổi mục đích sử dụng.

3744-11-img-20200622-181154
Công chức Hải quan Hữu Nghị (Cục Hải quan Lạng Sơn) kiểm tra mặt hàng nguyên phụ liệu gia công NK. Ảnh: H.Nụ

Điểm a khoản 1 Điều 56 Thông tư 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3, Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thông báo cơ sở sản xuất cho chi cục hải quan do tổ chức, cá nhân dự kiến lựa chọn làm thủ tục hải quan.

Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 62 Thông tư 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 39/2018/TT-BTC thì trường hợp tổ chức, cá nhân Việt Nam ký kết hợp đồng gia công với thương nhân nước ngoài nhưng không trực tiếp gia công mà thuê tổ chức, cá nhân khác gia công thì tổ chức, cá nhân ký kết hợp đồng gia công với thương nhân nước ngoài có trách nhiệm thông báo hợp đồng gia công lại cho chi cục hải quan nơi đã thông báo cơ sở sản xuất trước khi giao nguyên liệu, vật tư cho đối tác nhận gia công lại.

Đối chiếu với các quy định trên, Tổng cục Hải quan giao các cục hải quan tỉnh, thành phố tiến hành kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người nộp thuế (trường hợp đã thực hiện kiểm tra sau thông quan thì căn cứ kết luận kiểm tra sau thông quan) nếu xác định DN nhận gia công với thương nhân nước ngoài có hợp đồng gia công, có cơ sơ gia công sản xuất hàng hóa trên lãnh thổ Việt Nam, thực hiện thông báo cơ sở gia công và thông báo hợp đồng gia công theo quy định của pháp luật về hải quan, đáp ứng các quy định miễn thuế khác tại khoản 2 Điều 10 Nghị định số 134/2016/NĐ CP, DN sử dụng nguyên liệu, vật tư, linh kiện NK để gia công đưa đi gia công lại nhưng thông báo cơ sở gia công lại và hợp đồng gia công lại chậm so với quy định tại Thông tư 38/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 39/2018/TT-BTC thì thực hiện kiểm tra đối với cơ sở gia công lại.

Trường hợp xác định DN nhận gia công lại có sơ sở gia công, có thực hiện gia công lại, đã trả lại sản phẩm cho DN có hợp đồng gia công với thương nhân nước ngoài, hàng hóa gia công lại thực tế đã XK thì DN có hợp đồng gia công với thương nhân nước ngoài không bị ấn định thuế NK, chỉ xử lý vi phạm đối với hành vi thông báo cơ sở gia công lại, hợp đồng gia công lại cho cơ quan Hải quan không đúng thời hạn quy định.

Trường hợp thực hiện kiểm tra cơ sở gia công lại nhưng không đáp ứng các nội dung trên, thì thực hiện thu thuế theo quy định.

Nụ Bùi