Sửa Nghị định về chống chuyển giá: Không thể quy định hồi tố theo yêu cầu của doanh nghiệp

19:35 | 21/03/2020

(HQ Online) - Bộ Tài chính đang sửa Nghị định 20/2017/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Luật sư Hà Huy Phong (ảnh), Giám đốc Công ty Luật TNHH Inteco, Đoàn Luật sư TP Hà Nội đã chia sẻ với Báo Hải quan quan điểm của mình xung quanh vấn đề này.

sua nghi dinh ve chong chuyen gia khong the quy dinh hoi to theo yeu cau cua doanh nghiep
Luật sư Hà Huy Phong, Giám đốc Công ty Luật TNHH Inteco, Đoàn Luật sư TP Hà Nội
sua nghi dinh ve chong chuyen gia khong the quy dinh hoi to theo yeu cau cua doanh nghiep Lấy ý kiến dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 20 về giao dịch liên kết
sua nghi dinh ve chong chuyen gia khong the quy dinh hoi to theo yeu cau cua doanh nghiep Gỡ khó quy định về lãi vay cho doanh nghiệp giao dịch liên kết
sua nghi dinh ve chong chuyen gia khong the quy dinh hoi to theo yeu cau cua doanh nghiep Hé lộ định hướng sửa đổi Nghị định 20 về chống chuyển giá
sua nghi dinh ve chong chuyen gia khong the quy dinh hoi to theo yeu cau cua doanh nghiep Cần luật hóa vấn đề chống chuyển giá trong thu hút FDI

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc chống chuyển giá với giao dịch liên kết có ý nghĩa như thế nào đối với môi trường kinh doanh cũng như NSNN, thưa ông?

Chống chuyển giá là một chuỗi các hành động thực hiện bởi nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế trong lĩnh vực thuế, thương mại mà không phải riêng Chính phủ Việt Nam. Đó là một nỗ lực có tính toàn cầu. Mỗi quốc gia có những lý do khác nhau trong hành động chống chuyển giá, nhưng tựu trung lại thì có mấy lý do chính sau:

Thứ nhất, chống chuyển giá nhằm chống xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển dịch lợi nhuận mà bản chất là chống hành vi gian lận, trốn nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.

Trên phương diện toàn cầu, nhiều doanh nghiệp lợi dụng khoảng trống và những hạn chế trong chính sách thuế tại những nước nơi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh để chuyển lợi nhuận sang nước/vùng lãnh thổ có mức thuế suất thấp hơn hoặc bằng không. Trong phạm vi một quốc gia (như Việt Nam), nhiều doanh nghiệp tìm cách chuyển lợi nhuận từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác trong cùng hệ thống để từ đó đẩy tổng nghĩa vụ thuế của cả hệ thống tiệm cận về số không (0) hoặc âm.

Thứ hai, chống chuyển giá nhằm bảo vệ tự do và bình đẳng trong cạnh tranh.

Kinh tế thị trường vốn luôn tồn tại sự cạnh tranh và chính yếu tố cạnh tranh làm nên nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, môi trường cạnh tranh công bằng phải là nơi đảm bảo các điều kiện minh bạch, tự do cho các chủ thể tham gia. Hoạt động chuyển giá giúp các doanh nghiệp trong một hệ thống liên kết tận dụng sức mạnh của các doanh nghiệp khác trong cùng hệ thống, trốn tránh nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Trong khi đó, các doanh nghiệp khác vừa phải tự vận động để phát triển, vừa phải thực hiện nghĩa vụ thuế lớn với nhà nước nên không thể có những điều kiện như doanh nghiệp trong hệ thống liên kết. Điều đó không đảm bảo cho một môi trường cạnh tranh công bằng.

Thứ ba, chống chuyển giá cũng chính là chống thất thu NSNN.

Như tôi đã nói ở trên, chuyển giá thực chất là hoạt động nhằm gây xói mòn cơ sở tính thuế và dịch chuyển lợi nhuận để từ đó làm giảm lợi nhuận sổ sách nhằm tránh nghĩa vụ nộp thuế. Do đó, chống chuyển giá sẽ làm tê liệt các hoạt động gây xói mòn cơ sở tính thuế và dịch chuyển lợi nhuận, trả con số lợi nhuận của doanh nghiệp về giá trị thực của nó và tăng số thuế phải đóng vào ngân sách.

Thứ tư, chống chuyển giá giúp đảm bảo môi trường đầu tư lành mạnh và đáng tin cậy.

Hoạt động chuyển giá thường diễn ra trong hệ thống các doanh nghiệp liên kết, đặc biệt là hệ thống liên kết có tính toàn cầu. Điều này dẫn tới sự bất bình đẳng giữa những nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau tại Việt Nam. Nếu quản lý chuyển giá diễn ra không nghiêm minh sẽ dẫn tới hiện tượng “cá lớn nuốt cá bé”, môi trường cạnh tranh không bình đẳng giữa các nhà đầu tư, nên các nhà đầu tư độc lập sẽ quan ngại và không mạnh dạn đầu tư vào Việt Nam.

Nghị định 20/2017/NĐ-CP được Chính phủ ban hành từ năm 2017 đến nay đã có những hiệu quả nhất định trong công tác chống chuyển giá. Ông đánh giá như thế nào về Nghị định này?

Tôi cho rằng, Nghị định này thực sự là công cụ cần thiết với nền kinh tế Việt Nam và hoạt động quản lý thuế. Bởi lẽ, từ năm 2013, OECD đã ban hành chương trình hành động chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS), trong đó BEPS khuyến nghị các nước cân nhắc sử dụng chỉ tiêu chi phí lãi vay thuần, được tính bằng chi phí lãi vay trừ thu nhập lãi vay. Cũng theo khuyến nghị này, mức khống chế lãi vay có thể được tính theo tỷ lệ cố định, trong đó chi phí lãi vay thuần được trừ dao động trong khoảng 10% - 30% của EBITDA, hoặc tính theo tỷ lệ tập đoàn.

Nghị định 20/2017/NĐ-CP của Việt Nam đang áp dụng mức 20% EBITDA là mức trung bình theo khuyến nghị của BEPS.

Sau gần 3 năm áp dụng, hiện đã có nhiều sự phản hồi về những vướng mắc mà Nghị định này gây ra đối với doanh nghiệp. Chính vì vậy, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi Nghị định 20 với tỷ lệ khống chế chi phí lãi vay từ 20% lên 30%. Theo ông, mức này có hợp lý?

Ngưỡng 20% hay 30% đều nằm trong giới hạn mà BEPS khuyến nghị, nhưng việc áp dụng tỷ lệ nào lại phụ thuộc vào điều kiện và tình hình thực tế của quốc gia sở tại. Cá nhân tôi chưa có những con số tính toán cụ thể để làm cơ sở nên chưa dám khẳng định nhưng tôi tin là Bộ Tài chính có lý do để đưa ra mức tỷ lệ đó.

Nới mức tổng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp sẽ đồng nghĩa với việc gia tăng cơ hội cho một số doanh nghiệp lớn, nhưng sẽ làm ảnh hưởng đến tổng thu NSNN, đến môi trường đầu tư và cơ hội của doanh nghiệp độc lập. Mỗi phương án đều có những thứ phải mất và thứ sẽ được nên Bộ Tài chính cần có sự cân đối một cách hợp lý, không chỉ bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp lớn mà còn phải bảo vệ nền kinh tế, môi trường đầu tư và tính công bằng của nền kinh tế thị trường.

Cùng với việc thay đổi mức khống chế lãi vay, nhiều doanh nghiệp còn bày tỏ mong muốn Bộ Tài chính hồi tố lại khoản thuế đã đóng trước đây theo quy định tại Nghị định 20 nếu có sửa đổi mức khống chế lãi vay là 30% nếu như được Chính phủ thông qua. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế này?

Quy định việc hồi tố là quy định hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định tại Điều 152 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì “Chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước”.

Việc nhiều doanh nghiệp mong muốn Bộ Tài chính hồi tố lại khoản thuế đã đóng trước đây theo quy định cũ, tức là mong muốn Bộ Tài chính thu hồi lại quy định đã ban hành. Nếu tôi nhớ không nhầm thì điều này chưa từng có tiền lệ trong lịch sử lập pháp Việt Nam.

Lịch sử lập pháp đã có một số lần sửa đổi, thay thế văn bản ngay khi mới ban hành nhưng chưa có lần nào cơ quan ban hành thu hồi lại một quy định đã ban hành trước thời điểm thu hồi vài năm. Nhìn nhận ở góc độ khác, việc hồi tố lại quy định cũ, nghĩa là làm giảm trừ nghĩa vụ nộp thuế. Do đó, việc giảm trừ này phải căn cứ vào Luật Quản lý thuế và doanh nghiệp sẽ được giảm trừ nghĩa vụ thuế nếu thuộc vào một hoặc một số trường hợp mà Luật Quản lý thuế, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp đã quy định.

Tôi cho rằng, nếu sửa đổi, Bộ Tài chính chỉ có thể thay đổi mức tổng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đã quy định tại Điều 8 Nghị định 20 chứ không thể quy định hồi tố theo yêu cầu của doanh nghiệp.

Xin cảm ơn ông!

Thùy Linh (thực hiện)