Phòng vệ thương mại phải có trong chiến lược kinh doanh

15:20 | 27/10/2020

(HQ Online) - Phòng vệ thương mại (PVTM) là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các ngành sản xuất nội địa trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, chưa nhiều doanh nghiệp có đủ hiểu biết và kỹ năng để sử dụng hiệu quả công cụ này.

Chủ động phòng vệ thương mại để tận dụng FTA
Kiện phòng vệ thương mại 9 tháng tăng gấp đôi cả năm 2019
Hàng Việt chịu gần 200 vụ kiện phòng vệ thương mại
Hội thảo PVTM - Công cụ bảo vệ lợi ích ngành sản xuất nội địa trong bối cảnh hội nhập. Ảnh: H.Dịu
Hội thảo PVTM - Công cụ bảo vệ lợi ích ngành sản xuất nội địa trong bối cảnh hội nhập. Ảnh: H.Dịu

Ngày 27/10, tại Hà Nội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Cục PVTM (Bộ Công Thương) tổ chức Hội thảo PVTM - Công cụ bảo vệ lợi ích ngành sản xuất nội địa trong bối cảnh hội nhập.

Xuất hàng đi mới biết đang bị áp dụng PVTM

PVTM bao gồm biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ thương mại, là công cụ rất quan trọng khi Việt Nam đã và đang mở cửa mạnh thị trường nội địa cho hàng hóa từ 51 nước đối tác, trong 13 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) có hiệu lực, và gần đây nhất là FTA với EU (EVFTA).

Theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và hội nhập (VCCI), hội nhập mang lại nhiều cơ hội nhưng thách thức cũng không nhỏ, trong đó, hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam nếu không cạnh tranh lành mạnh, bán phá giá thì sẽ gây thiệt hại cho cả người tiêu dùng và nền kinh tế. Rà soát cho thấy, các nguồn cung hàng hóa vào Việt Nam cũng đồng thời là những nước bị kiện PVTM nhiều nhất trên thế giới. Đơn cử là Trung Quốc – nguồn nhập khẩu lớn nhất vào Việt Nam, tính giai đoạn từ năm 1995-2019, Trung Quốc bị kiện trên 1.500 vụ.

Còn theo bà Phạm Châu Giang, Phó Cục trưởng Cục PVTM, Việt Nam đã bị điều tra 189 vụ việc đối với hàng hóa xuất khẩu, nhưng chúng ta mới chỉ áp dụng phòng việc thương mại đối với 20 vụ việc.

Đây là con số chênh lệch khá lớn, nhưng theo bà Giang, hiệu quả của các biện pháp PVTM rất lớn. Cụ thể là giúp tăng thu ngân sách hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm, bảo vệ lợi ích các ngành sản xuất trong nước – các ngành này đóng góp tới 6% tổng GDP, giúp nhiều doanh nghiệp vượt qua khó khăn, giảm nguy cơ hàng hóa bị điều tra lẩn tránh biện pháp PVTM.

Tiêu biểu, bà Phạm Châu Giang cho biết, không lâu trước đây, Mỹ áp dụng nhiều biện pháp PVTM với thép Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, nhưng khi ấy chúng ta đang áp dụng biện pháp PVTM với thép của Trung Quốc, nên DN sử dụng thép cán nguội của Việt Nam để xuất đi Mỹ, do đó giảm nguy cơ Mỹ điều tra với thép Việt Nam.

Mặc dù vậy, đại diện lãnh đạo Cục PVTM cho rằng, hạn chế của Việt Nam là pháp luật về PVTM chưa hoàn thiện, năng lực cơ quan điều tra còn nhiều điểm cần học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp chưa cao, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý.

Cũng về vấn đề này, theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức về PVTM. Trong khi các doanh nghiệp FDI có bộ phận ra soát các quy định để đưa ra chiến lược hoạt động thì nhiều doanh nghiệp Việt Nam đến khi ký đơn hàng, thậm chí là xuất khẩu hàng đi rồi mới biết quốc gia này đang áp dụng biện pháp PVTM với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Cần sự phối hợp để lấy thông tin

Từ những vấn đề nêu trên, đại diện Bộ Công Thương cho biết, Bộ đang lấy ý kiến để xây dựng dự thảo quyết định phê duyệt Đề án nâng cao năng lực về PVTM trong bối cảnh hội nhập. Trong đó, Bộ sẽ tập trung hoàn thiện các văn bán phảp luật, chính sách về PVTM, nâng cao năng lực của cơ quan quản lý, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan, đẩy mạnh công tác đào tạo, thúc đẩy hợp tác quốc tế…

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng đang lấy ý kiến dự thảo thông tư hướng dẫn thực hiện Hiệp định EVFTA về PVTM. Dự thảo nhằm mục tiêu tạo cơ sở pháp lý cho việc điều tra áp dụng các biện pháp PVTM theo EVFTA, nội luật hóa các quy định của EVFTA nhằm tuyên truyền, phổ biến các quy định này tới doanh nghiệp…

Vì thế, tại hội thảo, các doanh nghiệp và chuyên gia đều đánh giá cao những việc làm này của Bộ Công Thương, để đảm bảo tính minh bạch trong điều tra, thực hiện. Tuy nhiên, các doanh nghiệp mong muốn có sự phối hợp về thông tin nhiều hơn giữa các bộ, ngành, nhất là Bộ Công Thương với cơ quan Hải quan để có số liệu, thông tin khi xây dựng, áp dụng các biện pháp PVTM.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, mục tiêu xây dựng hệ thống một cửa liên thông giữa cơ quan PVTM và cơ quan Hải quan tại Đề án là rất cần thiết để có thể tiếp cận thông tin một cách chính xác, chính thống. Tuy nhiên, cần phải ghi rõ hệ thống một cửa này được xây dựng cho đối tượng nào tiếp cận, các doanh nghiệp sẽ có cơ chế tiếp cận thông tin, dữ liệu về sản xuất, xuất nhập khẩu như thế nào…

Từ những vấn đề trên, ông Lê Triệu Dũng, Cục trưởng Cục PVTM cho biết sẽ tiếp thu các ý kiến để hoàn thành, sớm ban hành đề án và dự thảo về PVTM nêu trên.

Nhưng vị này cũng nhấn mạnh rằng, PVTM không phải công cụ bảo hộ của cơ quan quản lý mà là công cụ để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp, nên các doanh nghiệp phải đưa PVTM vào chiến lược, là yếu tố phải xử lý trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình.

Hương Dịu