Nhiều quy định về hồ sơ hải quan tiếp tục được nghiên cứu sửa đổi

14:59 | 15/07/2020

(HQ Online) - Dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư số 38/2015/TT-BTC về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đang được Tổng cục Hải quan lấy ý kiến rộng rãi cộng đồng doanh nghiệp. Vấn đề hồ sơ hải quan khi làm thủ tục hải quan là một trong những nội dung quan trọng dự kiến được sửa đổi lần này.

Hướng dẫn nộp quyết định miễn trừ biện pháp tự vệ trong hồ sơ hải quan
Siết chặt kiểm tra xuất xứ từ khâu tiếp nhận hồ sơ đến kiểm tra sau thông quan
Doanh nghiệp ưu tiên không được miễn gửi các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan
Đã có phương án xử lý khi hệ thống chưa tiếp nhận chứng từ thuộc hồ sơ hải quan
Hơn 7,6 triệu hồ sơ hải quan thực hiện qua dịch vụ công trực tuyến
nhieu quy dinh ve ho so hai quan tiep tuc duoc nghien cuu sua doi
Công chức Chi cục Hải quan cửa khẩu Móng Cái (Cục Hải quan Quảng Ninh) kiểm tra hàng hóa nhập khẩu. Ảnh: Q.Hùng

Tháo gỡ bất cập hiện tại

Liên quan đến giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu trong hồ sơ hải quan, theo quy định hiện hành giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu dưới dạng giấy khi nộp cho cơ quan Hải quan phải là bản chính. Nếu giấy phép đã được các bộ, ngành trao đổi qua Cổng thông tin một cửa quốc gia thì người khai hải quan không phải nộp cho cơ quan Hải quan.

Tuy nhiên hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật của bộ quản lý chuyên ngành đều quy định khi thực hiện thủ tục hải quan thì phải nộp bản chính giấy phép cho cơ quan Hải quan. Tuy nhiên, vẫn có bộ quản lý chuyên ngành ban hành quy định khi làm thủ tục hải quan không phải nộp bản chính cho cơ quan Hải quan.

Do đó, quy định hiện hành cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung để đảm bảo, bao quát được cả các trường hợp giấy phép trong hồ sơ hải quan không phải nộp bản gốc dưới dạng giấy. Theo đó, Tổng cục Hải quan đề xuất bổ sung quy định tại Điều 16 theo hướng người khai hải quan phải xuất trình, nộp cho cơ quan Hải quan theo quy định của pháp luật chuyên ngành, trường hợp theo quy định của pháp luật chuyên ngành không yêu cầu người khai hải quan phải nộp cho cơ quan Hải quan giấy phép bản chính dưới dạng giấy thì phải xuất trình bản chính để đối chiếu.

Cùng với sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong hồ sơ hải quan, dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 38/2015/TT-BTC cũng sửa đổi quy định về khai hải quan (điểm a, điểm e, điểm g khoản 1 Điều 18). Cụ thể, tại Điểm a khoản 1 Điều 18 quy định trách nhiệm của người khai hải quan phải khai đầy đủ các thông tin trên tờ khai hải quan theo và quy định trường hợp đặc thù như khai hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công, sản xuất xuất khẩu.

Quy định hiện hành phát sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cụ thể, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 8 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP quy định về hồ sơ miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là quà biếu, quà tặng thì trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài biếu, tặng cho cá nhân Việt Nam thì người nhận quà tặng là cá nhân có trách nhiệm kê khai chính xác, trung thực trên tờ khai hải quan về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là quà biếu, tặng; các thông tin về tên, địa chỉ người tặng, người nhận quà biếu, tặng ở nước ngoài và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai. Theo quy định tại khoản 4 Điều 80 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 thì “Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết hồ sơ miễn thuế, giảm thuế quy định tại Điều này”.

Bên cạnh đó, tại Điều 16 dự thảo Thông tư đã bổ sung quy định về hồ sơ miễn thuế khi làm thủ tục hải quan của các đối tượng miễn thuế. Do đó, dự thảo thông tư bổ sung quy định về việc hàng hóa nhập khẩu miễn thuế là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân nước ngoài cho cá nhân Việt Nam quy định tại Điều 8 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP về việc người khai hải quan kê khai chính xác, trung thực trên tờ khai hải quan về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là quà biếu, tặng; các thông tin về tên, địa chỉ người tặng, người nhận quà biếu, tặng ở nước ngoài và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai.

Sửa đổi quy định về khai hải quan

Về khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là phương tiện vận tải đường biển, đường sông, đường hàng không, đường sắt (điểm e khoản 1), theo quy định hiện hành thì trường hợp tàu tự hành làm thủ tục nhập khẩu phát sinh hai thủ tục: Nhập cảnh và nhập khẩu. Thực tế đã phát sinh trường hợp doanh nghiệp mua tàu từ nước ngoài về Việt Nam chỉ làm thủ tục nhập cảnh mà không làm thủ tục nhập khẩu, hoặc làm thủ tục nhập khẩu không đúng thời hạn quy định của Luật Hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, khi phát hiện vụ việc, đối chiếu với quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan thì xác định hành vi vi phạm là không khai hải quan (nhập khẩu), tuy nhiên theo ý kiến của doanh nghiệp thì doanh nghiệp đã khai báo hải quan (nhập cảnh) chứ không phải là không khai báo, theo đó phát sinh khó khăn trong việc xử lý vi phạm trong trường hợp này.

Do vậy, để khắc phục bất cập trên,ngoài việc quy định làm thủ tục nhập cảnh trước khi làm thủ tục nhập khẩu tàu thì phải bổ sung thêm quy định về thời hạn làm thủ tục nhập khẩu tại lần nhập cảnh đầu tiên sau khi ký hợp đồng mua bán tàu biển, tàu bay để đảm bảo xác định được lần nhập cảnh đầu tiên để làm thủ tục nhập khẩu. Do đó, Tổng cục Hải quan đề xuất sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 1 Điều 18 theo hướng: “Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là phương tiện vận tải đường biển, đường sông, đường hàng không, đường sắt thì người khai hải quan phải khai và hoàn thành thủ tục xuất khẩu trước khi làm thủ tục xuất cảnh, trừ trường hợp bán hàng sau khi phương tiện vận tải xuất cảnh; khai và làm thủ tục hải quan nhập cảnh trước khi làm thủ tục nhập khẩu, thời hạn nộp hồ sơ hải quan khi làm thủ tục nhập khẩu thực hiện theo quy định...; trường hợp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là phương tiện vận tải đường bộ hoặc phương tiện được các phương tiện khác vận chuyển qua cửa khẩu thì chỉ phải khai và làm thủ tục hải quan xuất khẩu, nhập khẩu, không phải làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh”.

Bên cạnh đó, người khai hải quan được sử dụng Thông báo kết quả phân tích, phân loại của cơ quan hải quan đối với lô hàng đã được thông quan trước đó để khai tên hàng, mã số cho các lô hàng tiếp theo có cùng tên hàng, thành phần, cấu tạo, tính chất lý hóa, tính năng, công dụng, quy cách đóng gói, nhập khẩu từ cùng một nhà sản xuất; trừ trường hợp mã số tại Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, các Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu thay đổi.

Ngọc Linh