Hội nhập càng sâu, áp lực kiện phòng vệ thương mại càng lớn

14:41 | 13/08/2022

(HQ Online) - Việt Nam đã và đang tham gia đàm phán, ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng, mở ra cơ hội lớn cho XK. Tuy nhiên cùng với đó, hàng Việt cũng ngày càng phải đối mặt nhiều hơn với áp lực gia tăng nguy cơ bị điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại (PVTM), đặc biệt là điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM.

Áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với một số sản phẩm đường mía
Gỗ Việt ngày càng đối mặt nhiều vụ kiện phòng vệ thương mại
Kiện phòng vệ thương mại “leo thang” khi xuất khẩu tăng tốc
Hội nhập càng sâu, áp lực kiện phòng vệ thương mại càng lớn
Thép là một trong những ngành hàng điển hình thường xuyên phải đối diện với các vụ kiện PVTM.
Ảnh: Nguyễn Thanh

Biện pháp ngày càng tinh vi

Theo ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), PVTM là xu thế tất yếu của quá trình hội nhập. XK tăng lên, tần suất bị điều tra PVTM tăng lên là điều có thể lý giải được. Điều này cũng thể hiện năng lực sản xuất, XK của nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển, đủ sức cạnh tranh và gây sức ép với ngành sản xuất nội địa của nước NK.

Theo thông tin mới nhất từ Cục PVTM (Bộ Công Thương), tính đến hết tháng 7/2022, hàng hóa XK của Việt Nam đã là đối tượng của 220 vụ việc điều tra PVTM của nước ngoài. Trong đó, số vụ việc điều tra từ năm 2011 đến nay là 173 vụ, chiếm tỷ lệ 78%.

“Tuy nhiên, xu hướng đáng lưu ý trong thời gian gần đây là số lượng các vụ việc điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM nhằm vào hàng hóa XK từ Việt Nam đang có dấu hiệu tăng lên, do cáo buộc Việt Nam sử dụng nguyên liệu chính hoặc các hình thức khác nhau để lẩn tránh thuế PVTM đang được áp dụng với quốc gia, lãnh thổ khác. Điển hình như với ngành gỗ-một ngành có kim ngạch XK lớn đang phải đối mặt với 2 vụ việc điều tra chống lẩn tránh thuế PVTM do Hoa Kỳ khởi xướng, một là với sản phẩm gỗ dán cứng và hai là với sản phẩm tủ gỗ”, ông Chu Thắng Trung nói.

Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành nhận định, xu thế PVTM đang mạnh lên, không chỉ mặt hàng có thế mạnh mà mặt hàng mới, có tiềm năng XK cũng trở thành đối tượng bị điều tra PVTM. Hiện, thị trường điều tra, áp dụng biện pháp PVTM với hàng Việt ngày càng mở rộng. Bên cạnh Hoa Kỳ, Canada…, các thị trường khác như Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), các nước ASEAN… cũng đang gia tăng điều tra PVTM đối với hàng hoá XK. “Đây là nguy cơ, khó khăn rất lớn đối với hàng hóa XK Việt Nam trong giai đoạn nền kinh tế đang hội nhập sâu rộng với thế giới”, ông Thành nói.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phân tích: từ góc độ kỹ thuật của biện pháp PVTM cho thấy, các biện pháp PVTM của các nước càng ngày càng tinh vi hơn.

“Việt Nam định hướng là nước XK, nhiều ngành hàng có vị thế cạnh tranh nhất định trên thị trường XK. Việt Nam cũng đang tập trung XK vào những thị trường thường xuyên sử dụng các biện pháp PVTM như Hoa Kỳ, EU hay các thị trường đang tăng sử dụng PVTM như ASEAN. Do đó, Việt Nam phải sẵn sàng với nguy cơ bị kiện”, bà Trang nói. Vị này cũng đề cập tới góc độ, ở cạnh một quốc gia bị kiện nhiều như Trung Quốc (quốc gia là đối tượng của 23,5% các vụ kiện chống bán phá giá, 30% các vụ kiện chống trợ cấp) hay các nước ASEAN (Malaysia, Indonesia, Thái Lan...), Việt Nam phải làm quen với nguy cơ bị “vạ lây”.

Tránh “bỏ trứng vào một giỏ”

Về ứng phó của DN với các vụ kiện PTVM, điển hình như vụ việc Hoa Kỳ điều tra chống bán phá giá sản phẩm gỗ, mật ong mới đây, theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, so với trước, các DN, hiệp hội đã trưởng thành hơn rất nhiều; biết nhiều hơn về các nguy cơ và hệ quả lớn từ các vụ việc gây ra đối với ngành sản xuất. Họ chủ động tìm hiểu, tiếp cận các đơn vị liên quan, thuê các đơn vị tư vấn, đầu tư để tham gia các vụ kiện sớm, can thiệp ngay từ đầu. Các DN hiểu rằng PVTM là nguy cơ không của riêng ai và ứng phó với các vụ kiện PVTM cần nỗ lực chung; từ đó chủ động liên kết với nhau, phối hợp tốt với các cơ quan liên quan, vận động được các tổ chức, xã hội… để đạt kết quả tốt nhất trong ứng phó kiện PVTM. Đây là tín hiệu rất tích cực.

Dù vậy, bà Trang cho rằng vẫn còn nhiều vấn đề phải cải thiện thêm. Các DN chưa có chuẩn bị xa về nhận thức, lúc xảy ra mới tìm hiểu; đồng thời chưa có chuẩn bị kỹ về nguồn lực để ứng phó với PVTM. Theo kiện là tốn kém nhưng ít DN có quỹ riêng cho những rủi ro này.

Ông Chu Thắng Trung thông tin, thời gian tới ngành hàng sản xuất, XK của Việt Nam có thể đối mặt với nguy cơ bị gia tăng điều tra PVTM, đặc biệt là điều tra chống lẩn tránh thuế từ nhiều thị trường XK khác nhau, trong đó có nhiều thị trường mới. Tính chất các vụ việc cũng sẽ ngày càng phức tạp, khó khăn hơn trong ứng phó, xử lý.

Trên thực tế hiện nay, các vụ việc có xu hướng điều tra khắt khe hơn. Các nước đang có xu hướng thắt chặt, đưa ra các yêu cầu cao hơn đối với Chính phủ, DN bị điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM. Điều này thể hiện thông qua việc yêu cầu các bên tuân thủ chặt chẽ về mặt thời gian trả lời câu hỏi; yêu cầu bổ sung thêm nhiều tài liệu, thông tin, dữ liệu trong khi thời gian trả lời bị hạn chế; việc xin gia hạn gặp nhiều khó khăn, rào cản ngôn ngữ.

Trước các thách thức đặt ra, DN cần phân tán rủi ro, đa dạng hoá thị trường XK, tránh “bỏ trứng vào một giỏ”. Ông Chu Thắng Trung lưu ý, trong bối cảnh các nước có xu hướng áp dụng các quy định chặt chẽ hơn trong việc xác định xuất xứ để áp dụng biện pháp bảo hộ, đặc biệt là ngăn chặn các hành vi lẩn tránh thuế PVTM, giải pháp lâu dài, hữu hiệu nhất cho hàng Việt là nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng của chuỗi sản xuất trong nước. Làm được như vậy, ngành sản xuất mới có thể phát triển bền vững, giảm thiểu nguy cơ bị điều tra, áp dụng các biện pháp chống lẩn tránh của các nước NK.

Ngoài ra, DN cần hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc, hệ thống sổ sách kế toán để phục vụ công tác điều tra PVTM cũng như phục vụ việc đăng ký cơ chế tự chứng nhận nguồn gốc nguyên liệu đối với các sản phẩm bị điều tra chống lẩn tránh.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang phân tích thêm: kiện PVTM là công cụ hợp pháp mà Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho phép về mặt hình thức để chống lại những cạnh tranh không lành mạnh từ hàng hoá NK từ nước ngoài. Nhưng trên thực tế, công cụ này bị lạm dụng rất nhiều để biến thành một công cụ bảo hộ trá hình. Việc tự ứng phó của các DN khá khó khăn. Bởi vậy, sự hỗ trợ của các cơ quan liên quan như Cục Phòng vệ thương mại, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài hay các hiệp hội, VCCI có vai trò rất lớn. Thời gian tới, cần tăng cường hỗ trợ DN ở các góc độ như: thông tin cảnh báo sớm về các nguy cơ để DN có sự chuẩn bị trong thời gian tốt nhất. Khi vụ kiện xảy ra rồi, DN cần được thông tin về diễn biến vụ việc một cách chính thức để không bị sót thông tin. Ngoài ra, Bộ Công Thương cần có đội ngũ chuyên nghiệp, chuyên môn sâu nhất về nội dung PVTM ở Việt Nam có thể khuyến nghị, hướng dẫn DN…

Thanh Nguyễn