Cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư

13:48 | 30/10/2022

(HQ Online) - Theo TS. Trần Toàn Thắng, Trưởng ban Dự báo kinh tế và doanh nghiệp, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội Quốc Gia, việc Việt Nam và EU thực thi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam- EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA) sẽ mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức trong thu hút FDI từ EU, song để nâng cao chất lượng dòng vốn này, Việt Nam cần cải thiện môi trường đầu tư.

Cải thiện môi trường đón sóng đầu tư FDI mới vào Việt Nam
Giải ngân vốn đầu tư công dần cải thiện
Cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư
TS. Trần Toàn Thắng.

FDI của EU vào Việt Nam chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với tiềm năng hợp tác giữa 2 bên. Theo ông đâu là bất cập trong việc thu hút vốn đầu tư FDI từ châu Âu?

Là một FTA thế hệ mới với phạm vi cam kết rộng, EVFTA được kỳ vọng sẽ thúc đẩy làn sóng FTA tiếp theo vào Việt Nam và cũng giúp nâng cao chất lượng các dự án FDI. Điều này phù hợp với định hướng của Việt Nam trong Nghị quyết 50-NQ/TW của Chính phủ về thu hút FDI chất lượng cao. Trong khi đó, Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA) được ký kết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa hai bên, nhất là về kinh tế - thương mại, mở ra cơ hội lớn để Việt Nam gia tăng thu hút FDI từ các quốc gia EU.

Việc thực thi EVFTA và EVIPA có ý nghĩa quan trọng đối với dòng FDI của EU vào Việt Nam, bởi EU hiện đang là đối tác kinh tế lớn và tiềm năng của Việt Nam. EVFTA là FTA thế hệ mới với các cam kết vượt ra ngoài việc xoá bỏ thuế quan, EVFTA được kỳ vọng mang đến cơ hội cho Việt Nam trong việc thu hút FDI chất lượng cao thông qua cải cách thể chế, chính sách và môi trường đầu tư.

Tuy nhiên, do cơ chế “chọn - cho” trong EVFTA vẫn tương đồng với cam kết tương tự của WTO nên độ mở của nguyên tắc hợp tác còn hạn chế. Ngoài ra, cơ cấu đầu tư từ EU vào Việt Nam còn lạc hậu, bản thân EU không phải một thực thể hoàn toàn là các nước giàu có nên đầu tư của EU chưa hình thành một xu hướng mà chỉ xuất phát từ cơ chế. Chính vì vậy, chất lượng các dự án FDI của EU vào Việt Nam vẫn còn thấp trong tương quan so sánh với các nước cùng khu vực ASEAN. Lĩnh vực đầu tư của EU vào Việt Nam cũng tương đối khác so với xu hướng đầu tư chung của khối này vào các nước ASEAN.

Ngoài ra, việc thực thi các FTA này còn dẫn tới những áp lực và chi phí liên quan tới cải cách thế chế, chính sách. Đồng thời có thể làm giảm dòng FDI theo chiều ngang vào Việt Nam, nhất là trong bối cảnh dòng FDI toàn cầu đang suy giảm và có tính chọn lọc hơn.

Quá trình chuyển đổi số cũng có thể thu hẹp dòng đầu tư của EU vào Việt Nam, đặc biệt là những doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực có giá trị cao do sự thay đổi trong mục tiêu đầu tư của doanh nghiệp đa quốc gia.

Bên cạnh dòng đầu tư từ EU vào Việt Nam, với 2 Hiệp định EVFTA và EVIPA, Việt Nam không chỉ nên kỳ vọng đầu tư EU vào Việt Nam mà nên quan tâm đến cả đầu tư từ các nước khác vào Việt Nam để xuất khẩu sang EU. Tôi thấy dòng đầu tư này rõ rệt hơn và có thể sẽ trở thành xu hướng, cần nâng cao hơn nữa vấn đề dự báo về các diễn biến tác động sắp tới.

Ngoài xu hướng chuyển dịch FDI của các nước trong EU, một thách thức khác cũng đang nổi lên, tác động đến không chỉ với việc thu hút đầu tư mà cả với thị trường là biến động tỷ giá VND và EURO. Ông đánh giá như thế nào về thách thức này?

Khi mặt bằng lãi suất huy động tăng thì lãi suất cho vay tăng theo sẽ tác động đến doanh nghiệp nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp vốn đang gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh những biến động thị trường về đầu ra của xuất khẩu, những thay đổi lãi suất của châu Âu còn ảnh hưởng đến thu nhập, tiêu dùng của người dân, giảm sức mua và tác động đến cả chính doanh nghiệp các nước EU cũng gặp khó khăn. Nếu điều này kéo dài hơn trong quý tới hoặc quý 1/2023 thì ảnh hưởng sẽ tác động tiêu cực đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Với những biến động tỷ giá VND – EURO trong thời gian vừa rồi, Chính phủ đã làm đúng khi cân nhắc giữa chi phí và lợi ích phải điều chỉnh nhẹ để giảm áp lực cho lãi suất. Cũng như hiện nay, điều chỉnh một chút lãi suất để giảm áp lực lãi suất tỷ giá. Cách điều hành hiện nay đang thể hiện hướng điều chỉnh tương đối nhẹ không tạo ra cú sốc và cân bằng giữa lãi suất và tỷ giá ở mức độ hợp lý để kiểm soát tình hình trước biến động thị trường thế giới.

Doanh nghiệp nên dự phòng rủi ro tỷ giá tăng lên. Việc cần làm là giữ bình tĩnh trong các quyết định về xuất khẩu và đầu tư là quan trọng nhất. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào những biến động nhanh và bất ngờ gần đây liên quan đến tỷ giá, trái phiếu, chứng khoán thì chính biến động tâm lý sẽ làm trầm trọng hơn những biến động thực của thị trường.

Vậy theo ông làm thế nào để giải quyết được những thách thức trên để tăng được nguồn vốn FDI từ EU vào Việt Nam?

Để giải quyết những thách thức trên, Việt Nam cần tăng cường công tác nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến về EVFTA và EVIPA. Đồng thời, cải cách thể chế; cải thiện chất lượng môi trường đầu tư - kinh doanh; hoàn thiện hơn các loại hình dịch vụ tư vấn và tạo thuận lợi đầu tư; đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng.

Bên cạnh việc cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư thì nâng cao chất lượng nguồn lao động để đáp ứng được yêu cầu của các dự án FDI lớn vào Việt Nam cũng là yếu tố cấp thiết hiện nay, vậy theo ông Việt Nam cần làm gì để nâng cao chất lượng nguồn lao động trong thời gian tới?

Thực tế đào tạo ở Việt Nam hiện nay trình độ đại học, thậm chí cao hơn đại học thì nhiều, nhưng đào tạo theo hình thức dạy nghề thì lại ít. Trong khi đó, với những ngành sản xuất mang tính kỹ thuật cao, họ không đòi hỏi nguồn lao động mang tính cao hẳn theo kiểu nghiên cứu ở các trường đại học hay trên đại học, cái họ cần là những công nhân lành nghề hay các kỹ thuật viên được đào tạo 3 năm ở các trường nghề.

Bên cạnh đó, việc các trường nghề tại Việt Nam vẫn đào tạo theo năng lực, mà chưa chú trọng đào tạo theo tín hiệu thị trường, theo nhu cầu của doanh nghiệp, nên chất lượng lao động chưa được đánh giá cao.

Để nâng cao chất lượng lao động, theo tôi cần có những chính sách hỗ trợ của Nhà nước, tạo “cú huých” các trường trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Ví dụ, Nhà nước có thể xây dựng những dự án nghiên cứu, xem thị trường lao động Việt Nam đến năm 2025 cần bao nhiêu nhân lực trong ngành điện tử, logistics… để giúp các cơ sở đào tạo chuyển hướng, đào tạo sát hơn, trúng hơn với nhu cầu thị trường.

Xin cảm ơn ông!

Xuân Thảo (thực hiện)