Cải cách kiểm soát chi cần gắn với cải cách quản lý tài chính công

20:16 | 22/12/2020

(HQ Online) - Để tăng cường công tác kiểm soát chi, cần tăng cường vai trò và trách nhiệm của KBNN để có thể kiểm soát và giám sát chặt chẽ hơn việc thực hiện ngân sách hàng năm ở tất cả các cấp.

Cải cách hành chính, Chính phủ điện tử tiết kiệm 14.000 tỷ đồng/năm
Quản lý rủi ro - yêu cầu bắt buộc trong cải cách kiểm tra chuyên ngành
Ngành Tài chính: Sáng tạo hơn nữa để giữ vững “phong độ” cải cách hành chính
Cải cách kiểm soát chi cần gắn với cải cách quản lý tài chính công
Toàn cảnh buổi Hội thảo.

Đó là thông tin được đưa ra tại Hội thảo chuyên đề “Công tác quản lý, kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN” do Bộ Tài chính tổ chức theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu KBNN Trung ương với 63 KBNN các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vào ngày 22/12/2020.

Thời gian qua, KBNN đã xây dựng Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) với mục tiêu thống nhất về quy trình quản lý thu – chi NSNN; đảm bảo đồng bộ dữ liệu thu, chi NSNN giữa cơ quan Thuế-Kho bạc-Tài chính; trực tiếp khai báo, quản lý dự toán các cấp minh bạch và rõ ràng; phân định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, vai trò của các cơ quan trong chấp hành ngân sách...

Đặc biệt, để góp phần tăng cường cải cách tài chính công và nâng cao hiệu quả tài chính ngân sách, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 113/2008/TT-BTC hướng dẫn việc quản lý, kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN, tạo cơ sở pháp lý để hoàn thiện phân hệ quản lý, kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN trên hệ thống TABMIS.

Tại Hội nghị, ông Trần Mạnh Hà, Vụ trưởng Vụ Kiểm soát chi (KBNN) cho biết, ngày 1/6/2013, Bộ Tài chính triển khai công tác quản lý kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN trên phạm vi toàn quốc cùng với việc triển khai đồng bộ các phân hệ của hệ thống TABMIS tại 63 tỉnh, thành phố.

“Từ đó đến nay, sau gần 7 năm thực hiện, công tác quản lý, kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN đã đi vào nền nếp, các đơn vị tham gia (chủ đầu tư, đơn vị dự toán, Sở Tài chính và KBNN) đã thực hiện tương đối tốt, đảm bảo đúng nguyên tắc, đúng quy trình kiểm soát cam kết chi theo quy định; hồ sơ, thủ tục đề nghị cam kết chi về cơ bản đã nhận được sự đồng thuận của đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư”, ông Trần Mạnh Hà nói.

Cũng theo đại diện KBNN, đây là một trong những cải cách về công tác kiểm soát chi nói riêng và cải cách tài chính công nói chung theo hướng công khai, minh bạch và phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế, phù hợp với lộ trình triển khai Chiến lược phát triển hệ thống KBNN đến năm 2020.

Cũng theo KBNN, việc triển khai thực hiện quản lý cam kết chi cũng đã giúp KBNN chủ động hơn trong việc quản lý, điều hành ngân quỹ nhà nước, đồng thời thông qua việc quản lý nhà cung cấp trên hệ thống TABMIS đã ngăn ngừa tình trạng rủi ro trong việc chuyển tiền thanh toán đến đối tượng thụ hưởng, nâng cao vai trò kiểm soát chi NSNN của KBNN, góp phần quản lý chặt chẽ nguồn vốn thanh toán từ NSNN cho các dự án...

Đại diện KBNN cũng thừa nhận, mặc dù công tác quản lý, kiểm soát cam kết chi đã ghi nhận những kết quả nhất định, song trong quá trình triển khai trong thực tiễn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc. Cụ thể, về cơ sở pháp lý, việc quản lý, kiểm soát cam kết chi mới chỉ được quy định tại các Thông tư của Bộ Tài chính, chưa được quy định tại Luật NSNN và nghị định hướng dẫn Luật NSNN.

Bên cạnh đó, trong quản lý điều hành ngân sách và quy trình nghiệp vụ, việc quản lý, kiểm soát cam kết chi được KBNN thực hiện kiểm soát sau khi hợp đồng được ký kết giữa đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư với nhà cung cấp; chưa thực hiện việc quản lý, kiểm soát cam kết chi trước khi ký hợp đồng theo thông lệ quốc tế.

Hơn nữa, các quy định hiện hành của Bộ Tài chính cũng chưa có hệ thống mẫu biểu báo cáo về việc quản lý, kiểm soát cam kết chi, nên hạn chế thông tin phục vụ công tác lập ngân sách trung hạn và hàng năm của các bộ, ngành, các cấp chính quyền và đơn vị sử dụng ngân sách; hạn chế trong việc quản lý ngân quỹ và dự báo dòng tiền của KBNN...

Đặc biệt, đối với các đơn vị sử dụng ngân sách, một số đơn vị, chủ đầu tư chưa nhận thức được ý nghĩa và mục tiêu của việc quản lý, kiểm soát cam kết chi mang lại nên thời gian qua vẫn phát sinh nhiều đơn vị vi phạm nguyên tắc, quy trình thực hiện cam kết chi... Bên cạnh đó, do chưa có báo cáo đầu ra về cam kết chi nên việc cung cấp thông tin về cam kết chi cho đơn vị để phục vụ lập ngân sách trung hạn và hàng năm cũng còn hạn chế...

Tại Hội nghị, đại diện Ngân hàng thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế đã đánh giá cao những kết quả đạt được trong triển khai công tác quản lý, kiểm soát cam kết chi NSNN của Bộ Tài chính. Đồng thời khuyến nghị Bộ Tài chính, KBNN cần thiết phải hoàn thiện cơ chế quản lý, kiểm soát cam kết chi NSNN cho phù hợp với thông lệ quốc tế.

Theo đó, KBNN cần tăng cường vai trò và trách nhiệm của KBNN để có thể kiểm soát và giám sát chặt chẽ hơn việc thực hiện ngân sách hàng năm ở tất cả các cấp. Việc kiểm soát cam kết chi có vai trò quan trọng để kiểm soát chi tiêu, bởi lẽ tất cả các cam kết chi đều dẫn tới các khoản thanh toán trong tương lai. Do vậy, việc kiểm soát chi cần nhằm mục tiêu quản lý ngay từ đầu việc phát sinh các nghĩa vụ, chứ không phải các khoản thanh toán sau này, để tránh tích tụ các nghĩa vụ vượt quá khả năng thực hiện và các hóa đơn chưa thanh toán. Do vậy, KBNN cần quy định tiền kiểm dựa trên rủi ro đối với cam kết chi để thay thế cho hệ thống quản lý, kiểm soát cam kết chi hậu kiểm hiện hành.

Đại diện Ngân hàng thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế cũng khuyến nghị cần hoàn thiện các quy định của Bộ Tài chính về quản lý, kiểm soát cam kết chi. Cùng với đó là xây dựng hệ thống quản lý, kiểm soát cam kết chi cho đơn vị sử dụng ngân sách và ban hành hệ thống kiểm soát cam kết chi cho các cơ quan chủ quản và các đơn vị; xây dựng cơ chế báo cáo về các cam kết chi chưa thực hiện và nợ đọng thanh toán.

Đặc biệt, việc cải cách về quản lý, kiểm soát cam kết chi nên gắn với cải cách quản lý tài chính công khác, theo đó cần thiết phải có sự tham gia của các bộ, ngành liên quan, gắn với việc sửa đổi về cơ chế quản lý, để đảm bảo tính pháp lý cao hơn, làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương và các đơn vị sử dụng ngân sách có căn cứ để triển khai thực hiện.

Thùy Linh